Tuy Lộc Đại vương, Thái sư Lưu Cơ là một trong những khai quốc công thần, tứ trụ triều đình nhà Đinh, có công phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lập nên nhà nước Đại Cồ Việt (thế kỷ X). Thái sư Lưu Cơ được phối thờ ở nhiều nơi, nhưng được thờ là Thành hoàng làng duy nhất của đình Đại Từ thuộc thôn Đại Từ, xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên.
1. Vài nét về thân thế, sự nghiệp của Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ
Đình Đại Từ hiện còn lưu giữ bản sao thần phả “Đinh triều công thần Tuy Lộc Đại vương ngọc phả lục” được sao chép lại từ cuốn Bách thần phả lục vào năm 1887 (niên hiệu Đồng Khánh). Nguyên bản phả lục đó do Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), sau đó quan Thừa khanh Nguyễn Hiền thừa sao lại năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) và lưu trong cuốn Bách thần phả lục của triều đình truyền qua các đời.

Đình Đại Từ
Theo đó, thần tích về Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ được chép lại như sau: Vào thời Thập nhị sứ quân cát cứ, ở trấn Thanh Hoa ngoại (nay là Thanh Hóa) có một lão ông họ Lưu tên Kỳ, lấy bà Lê Thị Phương, vợ chồng nên duyên đẹp đẽ đã gần 20 năm, làm nhiều điều hành nhân tu đức, nhưng đã gần tứ tuần mà chưa có con. Bởi vậy, hai vợ chồng bèn chọn ngày tốt hành lễ đến núi Bạch Bát (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) cầu tự. Buổi tối hôm đó, ông bà bỗng thấy có sắc đỏ giáng vào trong lòng. Ba tháng sau, bà Lê Thị Phương mang thai, đến ngày 3 tháng Giêng thì sinh hạ một người con trai, đường đường tuấn tú, dĩnh ngộ khác thường, đặt tên là Lưu Cơ. Đến năm 7, 8 tuổi, ông Kỳ cho con theo học Tri Hối tiên sinh ở huyện Gia Viễn (nay thuộc Ninh Bình). Năm Lưu Cơ ngoài 20 tuổi, văn thao võ lược, tài năng xuất chúng, nghe tin Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa ở động Hoa Lư, ông liền đến bái yết. Đinh Bộ Lĩnh giao cho Lưu Cơ đến đóng giữ ở huyện Siêu Loại để bình định sứ quân của Lý Lãng Công (Lý Khuê).
Lưu Cơ quản lĩnh 3000 binh mã đóng quân ở trang Đại Từ, huyện Tế Giang, phủ Thuận An (nay là thôn Đại Từ, xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên) thiết lập đồn doanh, ngày đêm phòng giữ. Lúc đó, nhiều trai tráng trong trang Đại Từ cùng đến xin ứng mộ vào nghĩa quân. Đóng đồn ở đây được một năm, Lưu Công thấy đất trang Đại Từ phong cảnh tươi đẹp, nhân dân thuần hậu. Ông liền cho dựng một gian nhà làm chỗ nghỉ ngơi, ban cho nhân dân trang Đại Từ 1000 quan tiền và bảo rằng: “Khi nào ta trăm tuổi, ắt sẽ làm thần trang này. Ta bình sinh không ăn thịt cá, về sau làm lễ tế tự ta chớ dùng các loại thịt trâu, lợn, gà, chỉ dùng đồ chay thôi”.
Về sau, ông tiến quân, tiễu trừ Lý Lãng Công. Đinh Bộ Lĩnh nghe tin khen ngợi không ngớt, phong cho Lưu Cơ là Đô hộ phủ sĩ sư Thượng quốc công cùng với Đinh Điền và Nguyễn Bặc làm đại tướng quân.
Sau khi bình định được Lý Lãng Công, Lưu Cơ trở về kinh đô Hoa Lư, giúp vua sửa sang việc chính sự. Theo nhiều nguồn sử liệu, thời điểm sau đó ông giữ chức Thái sư Đô hộ phủ trông coi thành Đại La và giúp Lê Hoàn huy động nhân tài vật lực tổ chức chống Tống. Đến năm 70 tuổi, ông xin cáo quan, lui về thăm quê cũ, thầy cũ ở trang Tri Hối và trang Đại Từ, thăm hỏi, ban thưởng cho những người già. Trong dịp này, ông lưu lại trang Đại Từ 10 ngày. Ba năm sau, ông qua đời vào ngày 24 tháng Chạp, được triều đình phong tặng là Tuy Lộc Đại vương, truyền cho các trang, trại những nơi ông từng đóng quân lập miếu phụng thờ.
2. Đình Đại Từ, xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên
Tương truyền, đình Đại Từ được xây dựng trên nền ngôi nhà cũ của Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ khi ông đóng quân tại trang Đại Từ nhằm bình định sứ quân Lưu Khuê (Lý Lãng Công) năm 967. Ông cũng ban đất cho nhân dân làng Đại Từ để canh tác và ban tiền cho nhân dân xây dựng đền miếu làm nơi thờ tự mình sau này.
Theo thần phả, truyền ngôn của các cụ cao niên tại địa phương và kết quả khai quật nghiên cứu của Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á được thực hiện năm 2009 cho thấy đình Đại Từ có niên đại khởi dựng muộn nhất là vào năm 1572 (cùng thời điểm Đại học sỹ Nguyễn Bính biên soạn phả lục). Ngôi đình trước thời điểm năm 1947 (khi bị thực dân Pháp thiêu rụi) là một công trình đồ sộ với kiến trúc gỗ tứ thiết vững chắc, nghi môn ba cổng cùng hai dãy giải vũ. Hiện nay tại di tích vẫn còn lưu giữ một số chân tảng đá kê cột là minh chứng cho quy mô bề thế của đình Đại Từ thuộc vào hàng lớn nhất trong vùng thời điểm đó.

Đến năm 1993, ngôi đình được nhân dân địa phương phục dựng trên một phần nhỏ nền móng của ngôi đình cũ và được trùng tu lớn vào năm 2018 - 2019, để lại kiến trúc như hiện nay. Đình có bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ Nhị gồm: 05 gian Đại bái và 03 gian Hậu cung cùng một số hạng mục phụ trợ như nghi môn, giải vũ, sân vườn. Các cấu kiện và thành phần kiến trúc được làm bằng các vật liệu mới mang phong cách kiến trúc truyền thống, đồng bộ và vững chắc. Gian trung tâm Hậu cung là nơi đặt ban thờ Thành hoàng Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ.
Hằng năm, nhân dân thôn Đại Từ thường tổ chức tế lễ vào hai dịp (Âm lịch): mồng 3 tháng Giêng (kỷ niệm ngày sinh), ngày 24 tháng 12 (kỷ niệm ngày hóa) để tưởng nhớ công lao của Thành hoàng làng. Ngoài những nghi lễ truyền thống, làng còn tổ chức các hoạt động giao lưu văn nghệ, thể thao, chúc thọ các cụ cao niên, thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân trong vùng.
Với những giá trị còn hiện hữu, đình Đại Từ được UBND tỉnh Hưng Yên ra Quyết định số 1766/QĐ-UBND ngày 31/08/2010 xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh và được Bộ VH,TT&DL xếp hạng di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 3537/QĐ-BVHTTDL, ngày 20/11/2024.
3. Các di tích thờ hậu duệ dòng họ Lưu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
3.1. Dòng họ Lưu Gia và các di tích tại xã Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên
Theo bản Gia phả dòng họ Lưu Đình ở Đồ Sơn, Hải Phòng ghi chép lại: Nguyên sơ Thuỷ tổ dòng họ là Lưu Quang Lang, nguyên quán tại Yên Định, Hoan Châu, đến đời con trai cụ là Lưu Kỳ cùng vợ và ba người em Lưu Điền, Lưu Khải, Lưu Nghiệp rời đến động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (Ninh Bình) sinh sống. Vợ chồng cụ Lưu Kỳ hiếm muộn, 10 năm phu thê mà không có con nối dõi, đã đến ăn chay cầu đảo Bạch Bát sơn thần, xã Bạch Liên (Yên Mô, Ninh Bình) và hạ sinh được Khải tổ Lưu Cơ vào giờ Dần, ngày 3 tháng Giêng, năm Canh Tý (940). Như vậy, Thái sư Lưu Cơ chính là Khải tổ của dòng họ Lưu Đình ở Đồ Sơn, Hải Phòng.
Cũng theo bản gia phả này, thì đến đời thứ 8, cụ Lưu Quý Công, húy là Đạo cùng vợ là bà Nguyễn Thị Từ Ngôn rời đến lập nghiệp tại xứ Đồng Kênh, làng Liêu Trung, tổng Liêu Xá (nay là thôn Liêu Trung, xã Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên). Như vậy, dòng họ Lưu Gia (Lưu Ngọc, Lưu Đình) ở Liêu Trung là chính là hậu duệ của danh nhân Lưu Cơ - Thành hoàng thờ đại đình Đại Từ (xã Đại Đồng, Hưng Yên).
Theo “Lưu gia phát tích phả thuyết” (ghi trong cuốn Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện Liêu Xá tổng Liêu Trung xã cổ tự chỉ do Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp sưu tầm năm 1920, mang ký hiệu AHa.1/4 được lưu trữ tại Thư viện Nghiên cứu Hán Nôm) và tư liệu lưu giữ tại dòng họ Lưu gia tại thôn Liêu Trung, xã Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên ghi chép lại: Vào đời vua Lý Anh Tông (1138 - 1174) mảnh đất Hưng Yên dân cư còn thưa thớt. Tại làng Liêu Trung thuộc huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng có hai vợ chồng cụ Lưu Gia Lạc Đạo cùng vợ là Nguyễn Thị Từ Ngôn đến xứ Đồng Kênh sinh cơ lập nghiệp. Cả hai cụ đều là những người chất phác, đôn hậu, hay làm phúc giúp người, trong số đó có một người Trung Quốc. Về sau, người đó quay trở lại nước Nam cùng với một ông thầy địa lý giỏi tên là Cao Xuân Dung, giúp cụ chọn hai mảnh đất có địa thế đẹp để cắm dinh cơ và phần mộ. Một vài năm sau cụ sinh hạ được hai người con trai là Lưu Gia Tuần và Lưu Gia Tái. Con trưởng của cụ là Lưu Gia Tuần lấy bà Lưu Thị Hậu (thuộc dòng họ Lưu khác trong làng), sinh hạ được ba người con trai, sau lập thành ba chi:
- Con cả: Lưu Gia Trưng - lập thành chi I ở Liêu Thượng, xã Liêu Xá.
- Con thứ hai: Lưu Gia Kính - lập thành chi II ở Liêu Trung, xã Liêu Xá.
- Con thứ ba: Lưu Gia Tích - lập thành chi III ở Đồ Sơn, Hải Phòng.
Ông Lưu Gia Tái lấy bà Nguyễn Thị Minh, sinh hạ được bốn người con trai. Ngôi mộ hai cụ Tổ hợp táng trên nền nhà xứ Đồng Kênh, ứng phát vào bốn người con của ông Lưu Gia Tái, sau này đều hiển thánh là Thành/Thần hoàng làng:
- Con cả: Lưu Gia Mạnh Cả được thờ ở miếu xóm Giát.
- Con thứ hai: Lưu Gia Hoàng Ân được thờ tại đình Liêu Trung và miếu Nghè.
- Con thứ ba: Lưu Gia Hồng Phúc được thờ tại miếu Kênh.
- Con thứ tư: Lưu Gia Hoàng Đức thờ tại miếu làng Nho Lâm (xã bên cạnh).
Đến triều đại nhà Lê, dòng họ Lưu có nhiều quý nữ tư chất thông minh, tài sắc vẹn toàn, được tuyển vào cung làm cung tần như: bà Lưu Thị Vân, làm phi tần phủ Chúa, được ban tên Lưu Thị Ngọc Tài (cũng vì vậy, dòng họ đổi đệm từ Lưu Đình sang Lưu Ngọc); Bà Lưu Thị Hạnh, Lưu Thị Chiêu lấy hai vua Lê đời sau; Bà Lưu Thị Hương là phu nhân Tể tướng, Thái bảo, quốc lão Phạm Công Trứ (1600 - 1675) có đền thờ và lăng mộ tại làng Liêu Xuyên, huyện Yên Mỹ.
Tính từ thời điểm cụ Tổ Lưu Gia Lạc Đạo đến xứ Đồng Kênh sinh cơ lập nghiệp cho cho đến nay, với bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dòng họ Lưu Gia đã trải qua trên 38 đời với 3 chi lớn và 21 ngành, nhánh tại Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hoá, Quảng Ninh.
Hiện nay trên địa bàn thôn Liêu Trung, xã Nguyễn Văn Linh có các di tích thờ hậu duệ dòng họ Lưu như sau:
- Đình Liêu Trung: Thờ Thành hoàng làng Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng (cuối thời Lý đầu thời Trần) và Lưu Gia Hoàng Ân Đại Vương. Đình được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích “Kiến trúc nghệ thuật” Quốc gia theo Quyết định số 22/1999-QĐ-BVHTT, ngày 6/4/1999.
- Chùa làng Trung (Pháp Vân tự): Người dân địa phương thường gọi là chùa Cả. Theo truyền thuyết, ngôi chùa này có gốc tích gắn liền với việc thờ nữ thần ở Luy Lâu xưa (Bắc Ninh ngày nay). Chùa làng Liêu Trung ngoài thờ Phật, thần Pháp Vân còn là nơi thờ Hậu là bà Lưu Thị Ngọc Tài và thân phụ là ông Lưu Đình Tá. Bà Lưu Thị Ngọc Tài còn được nhân dân ca tụng với tên gọi Bà Chúa Kinh.
- Nhà thờ họ Lưu Gia: Nhà thờ họ Lưu Gia (Lưu Ngọc) khởi nguồn là ngôi nhà ở của các cụ tổ trong dòng họ, đời nối đời truyền lại cho người trưởng tộc và đã trở thành nơi thờ cúng cụ Thủy tổ dòng họ Lưu tại Liêu Trung là cụ ông Lưu Gia Lạc Đạo và cụ bà Nguyễn Thị Từ Ngôn. Hiện nay tại Tổ đường họ Lưu Gia còn lưu giữ được một số hiện vật rất giá trị như: 01 tấm bia đá (1937), 01 sập đá (Hậu Lê), hoành phi, câu đối… Trong đó, sập đá đen là di vật của bà Lưu Thị Ngọc Tài để lại, được đặt ở gian trung tâm Từ đường.
3.2. Đình Đồng Hạ (xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên)

Đình Đồng Hạ
Căn cứ vào thần tích, sắc phong lưu giữ tại di tích và truyền ngôn của các cụ cao niên tại địa phương, đình Đồng Hạ là nơi tôn thờ Thượng đẳng phúc thần Lưu Lang Đại vương - em họ của Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ. Hai ông đã cùng phò giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng nhà nước độc lập tự chủ. Sau khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua đã phong Lưu Cơ là Đô hộ phủ Sĩ sư, Lưu Lang làm Phó sĩ sư. Tương truyền, khi đất nước thanh bình, Lưu Lang Đại vương từng dong thuyền qua đất Khoái Châu, thấy nhân dân giàu có, phong tục thuần hậu bèn cho xây dựng nhà cửa, doanh trại, khuyên bảo nhân dân làm ruộng, trồng dâu. Bởi vậy, sau khi Lưu Công mất, nhân dân Đồng Hạ nhớ ơn ông dựng miếu thờ. Các triều Lý, Trần đều truy phong ông là Thượng đẳng phúc thần.
Theo sắc phong và bia ký (1666, 1920) lưu giữ tại di tích, đình Đồng Hạ được xây dựng vào thời Hậu Lê và trùng tu vào thời Nguyễn. Hiện nay, đình có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm 05 gian 02 chái Đại bái và 03 gian Hậu cung. Các cấu kiện kiến trúc được làm bằng gỗ với nhiều mảng chạm đẹp, mang dấu ấn kiến trúc nghệ thuật thời Hậu Lê - Nguyễn. Tại đình còn lưu giữ được 02 tấm bia đá thời Lê: 01 bia đá niên hiệu Cảnh Trị thứ 4 (1666), 01 bia hậu niên hiệu Khải Định thứ 05 (1920), bát hương sứ thời Nguyễn, ngai thờ, kiệu bát cống, kiệu long đình... và nhiều đồ thờ tự có giá trị.
Đình Đồng Hạ được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 78/2004/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2004.
Hệ thống di tích lịch sử nói chung, đình Đại Từ cùng các di sản thờ dòng họ Lưu tại Hưng Yên nói riêng là bộ phận cấu thành nên di sản văn hóa dân tộc. Nơi đây không chỉ phụng thờ những bậc tiền nhân có công với đất nước, mà còn là điểm tựa tinh thần giúp giáo dục truyền thống cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Bởi vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích này là việc làm cần thiết, cần sự chung tay, góp sức của cộng đồng địa phương và toàn xã hội.
Như Thủy