Tọa lạc bên bờ sông Hồng hiền hòa và thơ mộng, đền Đa Hòa (xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên) hiện lên như một nét chấm phá cổ kính đầy trầm mặc.
Ngôi đền cổ nằm trên một thế đất phong thủy đắc địa, quanh năm được ôm ấp bởi những tán cây cổ thụ sum suê, xanh tốt, càng làm tăng thêm vẻ linh thiêng, u tịch. Nơi đây từ bao đời nay đã gắn liền với thiên tình sử bất tử trong tâm thức dân gian giữa chàng trai nghèo hiếu thảo Chử Đồng Tử và nàng công chúa Tiên Dung tài sắc. Vượt lên trên một câu chuyện tình yêu đôi lứa, hình tượng Chử Đồng Tử - Tiên Dung còn là biểu tượng rực rỡ cho ý chí khai phá vùng đầm lầy chiêm trũng, phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm, mở mang bờ cõi và thông thương buôn bán. Chính những công lao vĩ đại ấy đã đưa Chử Đồng Tử vào hàng "Tứ bất tử" - bốn vị thánh linh thiêng bậc nhất trong thế giới tâm linh của người Việt.
.jpg)
Ngược dòng thời gian về cuối thế kỷ XIX, chính vị Tiến sĩ tài hoa Chu Mạnh Trinh - người con ưu tú của làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu (nay là xã Mễ Sở) - đã hưng công xây dựng nên ngôi đền quy mô này. Ngày nay, đền Đa Hòa được tôn vinh là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc nhất của thời Nguyễn còn vẹn nguyên trên mảnh đất Hưng Yên. Không chỉ choáng ngợp bởi quy mô bề thế, ngôi đền còn là nơi lưu giữ cả một "kho tàng" di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử - văn hóa vô giá như: lọ bách thọ, đại tự, câu đối, châm thư, sắc phong, kiệu rước cùng các pho tượng thờ uy nghiêm. Trong số đó, trân quý và đặc biệt nhất phải kể đến Bộ ba ngai thờ bằng gỗ từ thời Mạc được đặt trang trọng tại Cung đệ Tam, như một chứng tích son sắt kết nối quá khứ với hiện tại.
.jpg)
Căn cứ vào hình dáng, họa tiết trang trí hoa văn trên ngai thờ cho biết, Bộ 03 ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa được tạo tác vào thế kỷ XVI. Bộ 03 ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa đều được làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng và được kết cấu bởi 4 phần chính: tay ngai, thân, bệ và đế ngai. Tay ngai nằm tại vị trí trên cùng được làm tròn, ôm lấy lưng, uốn hình vòng cung liền khối rồi chạy ra hai bên phía trước, thon nhỏ dần về 2 đầu. Tay ngai như thân của đôi rồng, đầu tay ngai được chạm hai đầu rồng trong tư thế quay chéo vào để chầu bài vị đặt trên ngai. Đây là chi tiết độc đáo, hiếm thấy trên các ngai thờ ở nước ta. Trên hình vòng cung của tay ngai để trơn, không trang trí hoa văn. Nối giữa tay ngai và bệ ngai là thân ngai. Thân ngai mỗi cỗ ngai được tạo bởi 6 trụ đứng đỡ hai bên tay ngai. Mỗi bên gồm 03 trụ, được phân chia đăng đối, hài hòa. Hai trụ đỡ thứ nhất và hai trụ đỡ thứ 3 được tạo tác giống nhau, mỗi trụ là cả khúc gỗ liền khối tiện ở hai đầu, được chạm lộng, trổ thủng hay chạm bong kênh tinh xảo và điêu luyện ở phần giữa tạo hình linh vật rồng với thân dài đang lao từ trên xuống rồi ngóc đầu trở lại. Hai trụ đỡ thứ 2 ở giữa đối xứng nhau tạo tác hình con tiện toàn thân.
.jpg)
Lưng ngai là mảnh ván hình lòng mo, hơi cong ra phía sau, diềm hai bên thắt eo. Trên lưng ngai bổ các ô lớn cân đối, có đai soi chỉ, chạm bong, trổ thủng hình rồng uốn lượn mềm mại, hoa văn hoa cúc cách điệu xen kẽ, vân mây lửa. Rồng được tạo tác với thân dài uốn lượn, rồng có mắt, mũi, trán nổi khối, miệng há rộng. Từ gáy, hố mắt, cằm rồng các đao mảnh bay ra phủ kín cả một khoảng. Phần cánh gà hai bên lưng ngai cũng được trổ thủng chạm những linh vật rồng giống nhau trong tư thế lao từ trên xuống dưới rồi ngước đầu lại, chầu vào linh vật rồng ở trong các ô ở giữa.
Bệ ngai được chia ra làm nhiều cấp nhô ra thụt vào với các đường diềm phẳng hoặc cong vỏ măng, trên đó trang trí những cánh sen vuông, rồng, chim phượng, hoa cúc và nhiều biểu tượng khác. Bốn chân ngai có 4 chân quỳ dạ cá cùng bốn hình rồng ở bốn góc, tỳ cằm vào bệ, cuộn thân, nâng cả cỗ ngai trong tư thế vững chắc. Rồng tại đây có mắt giọt lệ, tai thú, sừng lớn. Trên cả 03 ngai thờ đặt bài vị của các vị thần được thờ tại di tích.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, Bộ 03 ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa là hiện vật gốc độc bản, là một kiệt tác nghệ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam nói chung và chạm khắc gỗ đầu thế kỷ XVII nói riêng. Những ngai thờ có hình thức độc đáo, kích thước lớn, được sơn son thếp vàng với nhiều đề tài phong phú, sinh động với hình tượng rồng chủ đạo trên tất cả các mảng trang trí, với những đồ án "long ẩn vân", "lưỡng long chầu nhật", "lưỡng long chầu hoa cúc". Ngoài đề tài rồng, ngai thờ còn chạm khắc nhiều chủ đề về hoa văn hoa lá (hoa sen cách điệu, hoa cúc,…), đao mác, vân mây lửa, chim phượng,… là những đề tài mang đậm yếu tố của nghệ thuật Phật giáo và Nho giáo, phản ánh đúng chức năng thờ tự của những cỗ ngai thời bấy giờ.
Xét về mặt kỹ nghệ, Bộ ba ngai thờ gỗ tại đền Đa Hòa là minh chứng đỉnh cao cho nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền Việt Nam, thể hiện trình độ nghệ thuật điêu luyện của các nghệ nhân xưa. Tác phẩm là sự phối kết hợp nhuần nhuyễn, tài tình giữa các kỹ thuật đỉnh cao như chạm lộng, trổ thủng và chạm bong kênh. Mỗi đường chạm khắc đều toát lên sự sắc sảo, chau chuốt kỹ lưỡng đặt trong một bố cục tạo hình chặt chẽ, kết hợp cùng kỹ thuật sơn son thếp vàng đỉnh cao để tạo nên những kiệt tác độc nhất vô nhị trong kho tàng mỹ thuật tạo hình dân tộc. Không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh cấu thành nên giá trị cốt lõi của di tích đền Đa Hòa (thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Đa Hòa - Dạ Trạch), bộ sưu tập ngai thờ này còn may mắn bảo lưu được lớp sơn thếp cùng các đồ án trang trí tương đối nguyên vẹn qua thăng trầm thời gian. Chính những đặc điểm kỹ thuật và phong cách tạo hình trên ngai đã khẳng định mạnh mẽ rằng: Ngay từ đầu thế kỷ XVII, các làng nghề thủ công truyền thống như điêu khắc, sơn thếp tại vùng đất này đã đạt đến độ phát triển rực rỡ, tạo tiền đề cho sự trường tồn và kế thừa liên tục xuyên suốt chiều dài lịch sử các triều đại phong kiến cho đến tận đầu thế kỷ XX.
Có thể khẳng định, Bộ 03 ngai thờ gỗ tại đền Đa Hòa là những kiệt tác nghệ thuật độc bản, kết tinh trọn vẹn các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và mỹ thuật học. Bản thân mỗi cỗ ngai đã là một tác phẩm tạo hình hoàn chỉnh, cấu thành nên giá trị cốt lõi trong tổng thể không gian thiêng của di tích đền Đa Hòa. Từ những hiện vật đặc sắc này, người ta có thể soi rọi và thấu suốt một phần tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước đầy thăng trầm của cư dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng qua các thời kỳ. Đặc biệt, dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, nếu như đối tượng thờ tự trong các di tích thời Lý, Trần, Lê, Mạc chủ yếu là tượng độc lập hoặc tượng ngồi trên ngai, thì sự xuất hiện của hình thức thờ ngai vào đầu thế kỷ XVII tại đây rất có thể là cột mốc mở đầu cho một xu hướng định hình mới. Để rồi đến triều Nguyễn, hình thức thờ ngai này đã phát triển rực rỡ và trở thành một hiện tượng phổ biến, được minh chứng sinh động qua hệ thống ngai thờ vua chúa nhà Nguyễn hiện còn lưu giữ tại các đền miếu nơi Cố đô Huế ngày nay.
Mùa nối mùa, về thăm đền Đa Hòa hôm nay dưới những vòm cây cổ thụ tỏa bóng xanh tươi, ta vẫn vẹn nguyên cảm xúc trước một không gian cổ kính, nơi dấu ấn văn hóa của tiền nhân còn in đậm nét. Ngôi đền không chỉ cất giữ trong mình những huyền tích thiêng liêng, những giá trị kiến trúc nghệ thuật độc đáo, mà còn là nơi lưu dấu hệ thống di vật, cổ vật quý hiếm – minh chứng cho trí tuệ và đôi bàn tay tài hoa tuyệt vời của các nghệ nhân đương thời. Nơi đây thực sự là một điểm đến du lịch văn hóa tâm linh đầy hấp dẫn, vẫy gọi mỗi du khách muôn phương tìm về với vùng quê văn hiến Hưng Yên. Đặc biệt, niềm tự hào và giá trị lịch sử của ngôi đền càng được khẳng định mạnh mẽ khi vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026, chính thức công nhận các hiện vật quý giá tại đây là Bảo vật quốc gia (đợt 14), tôn vinh xứng đáng một di sản trường tồn cùng dòng chảy lịch sử dân tộc./.
Kim Cúc