Giữa miền quê thanh bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi những cánh đồng lúa trải dài và dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, Chùa Keo, xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên hiện lên như một báu vật văn hóa của dân tộc, lưu giữ gần một thiên niên kỷ lịch sử, tín ngưỡng và tinh hoa kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Chùa Keo, tên chữ là Thần Quang Tự, tọa lạc tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên (xưa là xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, năm 1962 chùa Keo được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Đến năm 2012, chùa Keo được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ Thủ tướng Chính phủ – trở thành một trong những di sản tiêu biểu nhất của Việt Nam.
Giống như bao ngôi chùa khác vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, chùa Keo là nơi thờ Đức Phật linh thiêng. Do quá trình hình thành, phát triển và xây dựng, chùa Keo còn là nơi tôn thờ Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ – vị Quốc sư nổi tiếng thời nhà Lý, người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Phật giáo nước nhà và một số người có công .
Theo sử sách ghi lại, Đức Thánh Dương Không Lộ sinh năm 1016 dưới triều vua Lý Thái Tổ. Ngài họ Dương, húy là Minh Nghiêm, hiệu là Không Lộ, người làng Giao Thủy, hương Hải Thanh. Tổ tiên nối đời làm nghề chài lưới, song tới đời ông thì lại có chí hướng tu mộ đạo thiền và là thế hệ thứ chín dòng Thiền Quang Bích. Năm 29 tuổi, Ngài xuất gia tu hành, từng tu ở các chùa Nghiêm Quang, Chúc Thánh và Hạ Trạch cùng với thiền sư Đạo Hạnh, Giác Hải. Ba ông thường chu du khắp nơi, sống đời thanh bạch, lấy việc cứu giúp chúng sinh làm lẽ sống.
Năm 1060, Ngài sang Tây Trúc học đạo. Sau khi trở về, vào năm 1061, Ngài cho dựng chùa Nghiêm Quang – tiền thân của Chùa Keo ngày nay. Từ đó, Ngài đi khắp vùng châu thổ Bắc Bộ truyền bá Phật pháp, dựng chùa, cứu dân độ thế. Với tài năng và đức độ lớn lao, Ngài đã chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thánh Tông và được phong làm Quốc sư. Năm Giáp Tuất (1094), niên hiệu Hội Phong thứ 2, đời vua Lý Nhân Tông, Quốc sư Dương Không Lộ viên tịch, hưởng thọ 79 tuổi. Đến năm 1167, vua Lý Anh Tông đổi tên chùa Nghiêm Quang thành Thần Quang Tự để tưởng nhớ công lao của Ngài.
Lịch sử chùa Keo trải qua rất nhiều biến thiên với những thăng trầm của lịch sử. Năm 1611, trận đại hồng thủy do sông Hồng gây ra đã cuốn trôi ngôi chùa cổ cùng một phần làng Dũng Nhuệ. Trước sự mất mát ấy, quan Trưởng tư lễ, Tổng thái giám Tuấn Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng cùng phu nhân Lại Thị Ngọc Lễ đã đứng ra đảm nhận việc vận động nhân dân khắp nơi xây dựng chùa. Người “thủ họa” vẽ kiểu xây chùa là ông Nguyễn Văn Trụ làm Tán trị công thần, tước Cường Dũng Hầu, chức Kim ngô nha đô Chỉ huy sứ. Nguyễn Văn Trụ. vẽ kiểu Sau 19 năm chuẩn bị và hơn hai năm thi công liên tục, đến tháng 11 năm 1632, Chùa Keo được hoàn thành trong niềm hân hoan của nhân dân và tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Trải gần bốn thế kỷ, chùa Keo vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính và nguyên bản của kiến trúc thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII. Đây là một trong số rất ít công trình kiến trúc gỗ cổ còn bảo tồn gần như trọn vẹn ở Việt Nam.

Hiện nay, toàn bộ khu di tích chùa Keo có diện tích rộng hơn 40.000 m2. Trong đó phần kiến trúc chính gồm 12 tòa, 102 gian, gồm các tòa: Tam quan, chùa Phật, tòa Ống muống, Tam Bảo, Giá Roi, Thiêu hương, Hậu cung, Thượng điện, Gác chuông, và Hành lang Đông, Tây. Các công trình kiến trúc phụ trợ gồm 4 tòa, 14 gian, gồm: mộ tháp, khu tăng xá, nhà tăng xá, nhà khách, nhà Ban quản lý di tích chùa Keo. Điều đặc biệt là tất cả đều được làm từ gỗ lim quý, liên kết bằng hệ thống mộng gỗ tinh xảo mà không sử dụng bất kỳ chiếc đinh kim loại nào. Bằng tài năng và sự khéo léo của những người thợ xưa, các công trình được bố trí hài hòa theo trục thần đạo Nam – Bắc, tạo nên tổng thể kiến trúc nổi tiếng mang phong cách “nội nhị công, ngoại nhất quốc” và “thượng gia, hạ trì”.
Từ trên mặt đê xuống qua bậc tam cấp, gặp một sân nhỏ lát đá tảng, công trình đầu tiên là tam quan ngoại. Rẽ phải, hoặc trái theo con đường men theo hồ nước hai bên tả, hữu gặp hai cổng tò vò, giữa là Tam quan nội. Đặc biệt, hai cánh cửa chạm rồng Tam quan nội chùa Keo, niên đại thế kỷ XVII, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam được công nhận là Bảo vật quốc gia, theo Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ.
Bước qua Tam quan nội, qua một sân nhỏ là chùa Phật - công trình chữ công thứ nhất - gồm các tòa: toà Ông Hộ, tòa Ống Muống và toà Tam Bảo. Từ đây, du khách như được trở về với không gian của nhiều thế kỷ trước. Những mái ngói rêu phong, những hàng cột lim vững chãi và những đường nét chạm khắc tinh vi đều phản ánh trình độ kiến trúc, mỹ thuật bậc cao của cha ông. Khu chùa Phật còn bảo lưu các pho tượng quý như tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm Quá Hải, tượng Cửu Long, bộ tượng Thập bát La Hán - những tác phẩm nghệ thuật có giá trị đặc sắc của thế kỷ XVII và XVIII.
Nối tiếp khu chùa Phật là đền Thánh – nơi thờ Đức Thánh Dương Không Lộ. Đền Thánh gồm các tòa: tòa Thiêu Hương, tòa Hậu cung và Thượng Điện. Những công trình này nối tiếp với nhau tạo thành một kết cấu kiểu chữ công thứ hai sau chùa Phật. Đây là không gian linh thiêng lưu giữ nhiều cổ vật quý giá như kiệu Thánh, tượng đầu rối và đặc biệt là Hương án chùa Keo. Đây là hiện vật gốc, độc bản, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo chứa đựng giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật và kĩ thuật chạm khắc trên loại hình đồ thờ làm bằng gỗ thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII. Với nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, độc đáo và giá trị lịch sử nổi bật, Năm 2021, Hương án chùa Keo được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 25/12/2021của Thủ tướng Chính phủ.
Sau đền Thánh là Gác chuông chùa Keo cao hơn 11m với kiến trúc ba tầng ngu nga, bề thế. Công trình này được xem là một kiệt tác của kiến trúc cổ đặc sắc trong hệ thống kiến trúc Phật giáo Việt Nam và đã được xác lập kỷ lục là ngôi chùa có tháp chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam. Năm 2007, Gác chuông chùa Keo được xác lập kỷ lục là ngôi chùa có tháp chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam.
Ở hai dãy hành lang phía đông, phía tây nối từ chùa ông Hộ kéo dài qua Gác chuông bao trọn chùa Phật và Đền Thánh là điểm nhấn cuối cùng tạo nên kiến trúc kiểu “nội nhị công, ngoại nhất quốc” của ngôi chùa Keo cổ kính.
Không chỉ nổi tiếng bởi giá trị kiến trúc và lịch sử, chùa Keo còn hấp dẫn bởi lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân gian, là sự kết tinh hòa hợp giữa sinh hoạt văn hóa tôn giáo và tín ngưỡng tâm linh. Đây không chỉ là một lễ hội truyền thống lâu đời mà còn là dịp để mỗi người tìm về với cội nguồn văn hóa dân tộc, hòa mình vào không gian linh thiêng và đậm đà bản sắc quê hương.
Hàng năm, Chùa Keo tổ chức hai kỳ lễ hội lớn vào mùa xuân và mùa thu.
Lễ hội mùa Xuân diễn ra vào ngày mùng 4 tháng Giêng âm lịch. Trong không khí rộn ràng của những ngày đầu năm mới, nhân dân và du khách cùng hướng về cửa Phật để cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Những nghi thức truyền thống như kéo lửa, thổi cơm, nấu xôi dâng Phật cùng các trò chơi dân gian, hát giao duyên tạo nên bầu không khí đậm đà hồn quê Bắc Bộ.
Lễ hội mùa Thu diễn ra vào trung tuần tháng 9 âm lịch mang đậm tính chất hội lịch sử, gắn liền với cuộc đời của thiền sư Không Lộ. Ngoài nghi thức tế, lễ, rước kiệu còn các nghi thức văn hoá dân gian đặc trưng của vùng như: múa trải cạn, múa ếch vồ…
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc sắc, năm 2017, Lễ hội chùa Keo được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
Ngày nay, Chùa Keo không chỉ là điểm đến tâm linh nổi tiếng mà còn là biểu tượng của trí tuệ, tài năng và sức sáng tạo của người Việt. Mỗi mái ngói rêu phong, mỗi tiếng chuông ngân vang nơi cổ tự đều như kể lại câu chuyện của gần một nghìn năm lịch sử, đưa du khách tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc, cảm nhận vẻ đẹp trường tồn của một kiệt tác kiến trúc giữa lòng quê hương Việt Nam.
Nguyễn Thị Duyên. Ban QLDT tỉnh