Đến nay chưa xác định được chính xác cây nhãn xuất hiện ở Hưng Yên từ bao giờ. Tuy vậy, kết quả khảo cổ và một số nghiên cứu khoa học cho thấy cây nhãn đã có mặt ở Hưng Yên từ hàng ngàn năm trước. Với sức sống bền bỉ, “Nhãn Hưng Yên” đã trở thành thương hiệu cây ăn quả và làng nghề nổi tiếng nhất của vùng này.
Nơi đây thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn và con người đã giúp cho cây nhãn Hưng Yên trở thành thương hiệu; ngược trở lại chính thương hiệu “Nhãn Hưng Yên” góp phần làm cho cái tên của vùng đất này nức tiếng gần xa.
Nhãn Hưng Yên hiện nay bao gồm cả một vùng rộng lớn, nhưng có lẽ mật độ dày đặc nhất, ngon nhất và lâu đời nhất là vùng nhãn Phố Hiến. Theo số liệu của sở Nông nghiệp và Môi trường năm 2025, diện tích trồng nhãn của Hưng Yên khoảng 4815ha, sản lượng trên 20.000 tấn; tập trung nhiều nhất ở Phố Hiến 1704ha và Khoái Châu (cũ) 1015 ha.
Nhãn Hưng Yên chủ yếu cho quả, phục vụ nhu cầu trong nước, từng bước tiếp cận thị trường các nước như: Mỹ, Úc, Trung Quốc … Ngoài ra, nhãn còn cho các sản phẩm mật ong, long nhãn, phát triển các làng nghề và hình thành vùng văn hoá nhãn. Năm 2026, “Tri thức dân gian trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên” được vinh danh Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.
I. ĐẶC ĐIỂM THỔ NHƯỠNG, KHÍ HẬU, THUỶ VĂN VÙNG NHÃN HƯNG YÊN
Nghiên cứu nhãn Hưng Yên, trước hết cần nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn đất Hưng Yên. Hưng Yên thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đất đai của Hưng Yên khá đồng nhất, toàn tỉnh có duy nhất 01 nhóm đất chính, đó là nhóm đất phù sa sông Hồng trung tính, ít chua và giầu dinh dưỡng.
Hệ thống sông ngòi Hưng Yên khá dày đặc, gồm các con sông chính như: Sông Hồng, sông Luộc, sông Cửu An, sông Kẻ Sặt... và hệ thống thủy nông lớn nhất miền Bắc đó là kênh Bắc Hưng Hải với trữ lượng nước lớn và phong phú.
Chính vì đặc điểm khí hậu, đất đai và trình độ canh tác của người dân Hưng Yên, nên nhãn trồng ở Hưng Yên mới ngon và nổi tiếng đến vậy, nhất là nhãn lồng ở Phố Hiến. Từ lâu, nhãn lồng Phố Hiến đã được biết đến như một đặc sản nổi tiếng của Hưng Yên với mùi vị thơm ngon đặc biệt và có đặc tính tốt cho sức khỏe. Điều này lý giải tại sao nhãn lồng Phố Hiến lại được cung tiến cho các vị vua chúa thời phong kiến và được tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là loại ngon nhất, trở thành trái cây đặc sản của Hưng Yên.
II. NHẬN DIỆN CÂY NHÃN HƯNG YÊN
1. Nguồn gốc cây nhãn và các giống nhãn ở Hưng Yên
Theo một số nghiên cứu, nhãn được trồng ở nhiều nước châu Á có gần nhau vùng khí hậu như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia... Nhiều nghiên cứu cho rằng khu vực miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam được xem là quê hương bản địa của loại cây ăn quả này.
Đối với tỉnh Hưng Yên, kết quả khai quật tại di chỉ khảo cổ Động Xá năm 2004 - 2005 đã phát hiện hạt nhãn, cùng nhiều loại hạt khác trong sân nghi lễ khu mộ táng Đông Sơn, có niên đại từ 2.000 đến 2.500 năm.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993), từ đầu thế kỷ III, nhãn (long nhãn) đã được ghi nhận là một sản vật quý của Giao Châu, được dùng làm cống phẩm dâng triều Đông Ngô cùng nhiều sản vật đặc sắc khác của phương Nam. Đến năm 1386, triều Minh sai sứ sang Đại Việt đòi giống các loại cây ăn quả, trong đó có cây nhãn, nhằm đưa về Trung Quốc trồng.
Cây nhãn được trồng lâu đời nhất còn lại đến ngày hôm nay có lẽ là cây nhãn ở chùa Hiến thuộc xã Hồng Châu, tỉnh Hưng Yên cách đây khoảng 300 - 400 năm. Từ vùng này, cây nhãn được di thực đến trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc Việt Nam như: Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Sơn La... rõ nhất là Sơn La.
Nhãn nói chung có nhiều giống, cách gọi tên thường căn cứ vào đặc điểm màu sắc, hình dáng, hương vị của quả kết hợp với địa danh vùng trồng nhãn như: Nhãn xuồng cơm vàng (Vũng Tầu), nhãn tiêu da bò (các tỉnh miền Tây Nam), nhãn sông Mã (Sơn La) … Nhưng nhiều và ngon nhất là các giống nhãn trồng ở Phố Hiến, Hưng Yên. Như: nhãn đường phèn, nhãn cùi, cùi vân, cùi cổ, nhãn trơ cùi, nhãn nước, nhãn thóc, nhãn gỗ, nhãn Hương Chi, … Trong đó ngon và nổi tiếng nhất là nhãn lồng Phố Hiến, loại trái cây đặc sản nức tiếng.
2. Cây nhãn tổ Hưng Yên
Cây nhãn Tổ nằm tại chùa Hiến (tỉnh Hưng Yên) từng là sản vật tiến vua thời xưa. Đặc điểm nổi bật về hình thái: quả to tròn đều, vỏ màu vàng nâu nhạt, da láng bóng, cùi dày trắng ngà ráo nước, cảm giác như có từng lớp xếp lên nhau, bên trong là hạt nhỏ đen nháy có thể nhìn mờ mờ khi bóc vỏ.
Hương vị: loại quả này ngọt thanh, giòn dai và hương thơm dịu mát đặc trưng, không bị gắt như các loại nhãn khác.

Nhà bác học Lê Quý Đôn mô tả hương vị của loại quả này: "mỗi lần bỏ vào miệng thì tận trong răng lưỡi, đã nảy ra vị thơm tựa như nước thánh trời cho" (Bách khoa thư Vân đài loại ngữ).
Cây nhãn Tổ ta thấy hôm nay là một nhánh của cây nhãn Tổ xưa. Trong một năm cây nhãn Tổ bị lụi cành rồi xuống thân, may sao từ thân mọc ra một nhánh cành mới. Người dân đã cấp cứu dùng gậy chống, đắp đất cao và cứu được một nhánh của cây chính, cây tiếp tục phát triển và là cây nhãn được đắp bệ cao như hiện nay.
3. Nhận diện nhãn Hưng Yên
Qua kết quả khảo cổ, các nghiên cứu nói ở trên, cũng như thực tế hiện nay cho thấy: Cây nhãn đã có từ hàng ngàn năm, được trồng ở nhiều nước có gần nhau vùng khí hậu. Nhãn có nhiều giống, có nơi gọi tên theo địa danh trồng, có nơi vừa gọi tên theo địa danh, vừa gọi tên theo hình dáng và đặc tính. Nhưng ghi nhận nhãn Hưng Yên, nhất là nhãn vùng Phố Hiến là loại nhãn ngon nhất, từ lâu đời đã là đặc sản “Tiến vua”; là sản vật quý của người Việt, mà các vua chúa Trung Quốc yêu cầu mang triều cống (là nơi có trồng nhãn), đó là “Nhãn lồng Hưng Yên”.
III. THỬ LÝ GIẢI VỀ NGUỒN GỐC TÊN GỌI “NHÃN LỒNG” HƯNG YÊN
1. Điểm qua một số quan điểm và ý kiến của tác giả
a. Trong dân gian cũng như một số tài liệu đã đưa ra cách hiểu về nguồn gốc tên gọi “nhãn Lồng”
(1) Mỗi khi mùa nhãn chín, thường có nhiều loài dơi và chim đến ăn phá hoại, nên người ta thường đan các lồng tre treo lên để bảo quản các chùm nhãn.
(2) Vì là nhãn tiến vua, nên người dân và quan chức phải đưa quả vào lồng thúc ngựa chạy lồng về kinh đô để không ảnh hưởng chất lượng quả.
(3) Từ câu ca dao: Hỡi cô cắt cỏ bên sông/Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây
(4) Nhãn lồng là giống nhãn quả to, cùi dày và có nhiều lớp lồng vào nhau …
b. Ý kiến của tác giả
(1) Nhãn lồng xưa, là những cây nhãn trồng hạt truyền thống quả to, cuống dài, mọng nước, trọng lượng khá nặng. Phần cuống dài làm chùm quả rủ xuống, trong khi các cành nhỏ mang lại độ đàn hồi, tạo nên những chùm quả trĩu trịt; những chùm quả như thế khó có thể mang nổi những lồng tre vừa cứng vừa nặng treo vào nó.
(2) Mùa nhãn chín thường là mùa mưa bão, nhãn rụng nhiều và dễ bị gẫy cành người dân phải chống đỡ cho những cành sai quả. Cho rằng đeo các lồng tre vào các chùm quả (hoặc bất cứ thứ gì), đều sẽ làm tăng sức cản gió bão dễ gẫy cành.
(3) Chim và dơi thì nhãn nào nó cũng ăn, không chỉ nhãn quả to. Nhà có một vài cây nhãn cổ thụ nếu đan lồng tre như vậy chắc cũng mất cả bụi tre, tiền nhãn chưa chắc đã hơn tiền lồng tre; tre chưa chắc đủ để đan lồng cho nhãn.
(4) Cũng như vậy, cách giải thích ngựa chạy nhanh (lồng) về kinh thành, hay chữ “lồng” trong câu ca dao thấy sự khiên cưỡng. Nếu như vậy, tại sao lại không có “vải lồng”, “bưởi lồng”, “cam lồng” “mận lồng”, “khoai lồng”… là những củ, quả tiến vua và thường bị chim, thú phá hoại hoặc chạy ngựa về kinh đô tiến vua như nhãn lồng Hưng Yên.
Tóm lại, tôi cho rằng những cách lý giải trên chưa thực sự thuyết phục, có phần suy diễn đơn giản. Vậy ta nên hiểu như thế nào?
Là một tên gọi dân gian, tìm ra một câu trả lời duy nhất đúng để mọi người cùng thừa nhận, chắc rằng sẽ khó. Bài viết xin đưa ra một số hướng tiếp cận khác như: đặc điểm cư dân, ngôn ngữ, đặc tính của quả… hi vọng mang đến cho mọi người thêm sự lựa chọn cho riêng mình.
2. Tiếp cận 1: Cách gọi tên của người Trung Quốc
Người Trung Quốc gọi quả nhãn tươi: 龙眼 (Lóngyǎn - Long nhãn). Cây nhãn (nói chung): 龙眼树 (lóngyǎn shù: long nhãn thụ). Theo phiên âm Hán Việt, long (龙) nghĩa là "rồng", nhãn (眼) nghĩa là "mắt", thụ (树) là “cây”. Tên gọi này bắt nguồn từ hình dáng quả nhãn khi bóc vỏ nhìn giống như con mắt của loài rồng.
3. Tiếp cận 2 phân tích ngôn ngữ: 龙眼 (Lóngyǎn - Long nhãn)/“Nhãn lồng” hai từ này có liên quan gì với nhau không?
(1) Cư dân vùng Phố Hiến: Nghiên cứu về nhãn Hưng Yên, cần thiết phải nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển Phố Hiến và vai trò một bộ phận cư dân người Hoa ở Phố Hiến. Người Trung Quốc di cư vào Phố Hiến từ rất sớm, nhiều nhất khoảng từ thế kỷ XIII đến XVI, cộng đồng người Hoa ở Phố Hiến có ảnh hưởng khá lớn đến phát triển kinh tế, tập quán sinh hoạt, văn hoá và kiến trúc vùng Phố Hiến. Những cây nhãn ngon được trồng ở đình chùa Hiến, nơi đây gốc gác thuộc các dòng họ người Hoa xây dựng và sinh sống lâu đời. Trong kho từ vựng tiếng Việt, tiếng Hán chiếm tỷ lệ khá lớn, được đọc theo âm bản địa Hán - Việt. Ngoài ra tiếng Việt còn có đặc điểm thường dùng một số tính chất của sự vật, hiện tượng để gọi tên.
Từ những yếu tố như vậy, tên gọi của nhãn có thể chịu ảnh hưởng của phiên âm tiếng Hán không?
(2) Sự phiên âm từ tiếng Trung Quốc, có liên quan đến cách gọi tên loại nhãn lồng (long nhãn/nhãn lồng) không? Trong quy tắc tiếng Trung, cấu tạo từ và ngữ pháp thường đi ngược lại so với tiếng Việt. Tiếng Trung đi theo trật tự "Phụ trước, chính sau" (nhân tố bổ nghĩa đứng trước nhân tố được bổ nghĩa), trong khi đó tiếng Việt đi theo trật tự "Chính trước, phụ sau". Người Trung Quốc gọi “long nhãn thụ”, thì người Việt đọc là “cây long nhãn”.
Giữa từ “long” và “lồng” liệu có mối liên hệ biến đổi không, có liên quan gì tới tên gọi “nhãn lồng” không? Mong các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu thêm về mối quan hệ đối chứng, hoặc so sánh, một đặc điểm của kho từ vựng tiếng Việt.
4. Tiếp cận 3 tên gọi sản phẩm “long nhãn”: “Long nhãn” tên gọi một sản phẩm cùi nhãn khô. Ở đây ta nên hiểu là long nhãn tệt, cùi nhãn được bóc ra thành từng mảnh mang phơi (long nhãn xoáy gần đây mới có). Vậy “long” là rồng (từ Hán, danh từ) hay “long” là từ thuần Việt (động từ, tính từ)?
Tìm hiểu từ “long” trong từ “long nhãn”: Theo từ điển tiếng Việt có 2 nghĩa: “long” là danh từ, từ Hán Việt có nghĩa rồng, long nhãn là mắt rồng. “Long” là động, tính từ là từ thuần Việt có 2 nghĩa: (1) mở to, sáng lên, long lanh… (2) rời ra, bong ra, không còn gắn chặt với nhau như trước nữa, chỉ trạng thái một bộ phận không còn gắn chặt, liên kết vào tổng thể. Thí dụ: long ốc vít, long bản lề, cau long hạt, …
Tôi nghĩ, cả 2 cách hiểu đều có lý, nhưng nên hiểu theo cách nào? Tôi thiên về cách hiểu “long” là từ thuần Việt, cũng phù hợp với chủ trương khi có từ Việt thay thế thì ta ưu tiên dùng từ Việt. Diễn tả “Long nhãn” là phần cùi được bóc ra từ quả nhãn (dạng mảnh), sau khi phơi khô.
5. Vậy nhãn lồng là gì, loại nhãn nào được gọi là “nhãn lồng”?
Như trên đã nói, người Trung Quốc gọi tên nhãn theo xuất xứ vùng trồng, người Việt vừa gọi theo xuất xứ vùng trồng, lại vừa kèm hình thái tính chất của mỗi loại nhãn. Như nhãn cùi cổ Hưng Yên, nhãn đường phèn Hưng Yên, nhãn lồng Hưng Yên. Riêng với người Hưng Yên, các tên gọi đều chủ yếu căn cứ vào hình dáng cùi và đặc tính của hương vị trái nhãn…
Nhãn cùi là nhãn có cùi dày, nhãn nước là nhãn nhiều nước, nhãn gỗ là nhãn cùi khô, nhãn thóc là nhãn quả nhỏ cùi mỏng, nhãn cùi vân là nhãn cùi có vân, nhãn đường phèn là nhãn có hương vị đường phèn …
Tất cả tên gọi các giống nhãn đều căn cứ vào hình dáng, màu sắc và hương vị của quả nhãn. Cho nên “nhãn lồng” cũng phải được gọi tên theo nguyên tắc đó. Đó là cách tiếp cận tương đồng với cách gọi tên các loại nhãn khác.
Trong họ hàng nhà nhãn, “nhãn lồng” là những cây nhãn ngon nhất, ưu tú nhất của nhãn Hưng Yên. Loại nhãn quả to, mọng, nhiều nước, cùi dày có nhiều lớp xếp lồng lên nhau, khi bóc vỏ phần cùi nhô cao cuống lõm xuống, cùi róc nhìn trong suốt như thấy được phần hạt đen ở trong lớp cùi như mắt con rồng… thì được gọi là “nhãn lồng” để tôn vinh và phân biệt với các loại nhãn khác.
Tóm lại, sau quá trình nghiên cứu để cố gắng lý giải cái tên “nhãn lồng”, tác giả xin đưa ra quan điểm như sau:
(1) Cũng như các loại nhãn khác, nhãn lồng là tên gọi dân gian. Mà đã là tên gọi dân gian thì có thể tìm ra căn cứ hoặc không tìm ra căn cứ. Nhưng khi đưa ra những lý giải, sự định danh thì cần có căn cứ khoa học và xã hội thuyết phục.
(2) Có thể đó là một từ mượn tên gọi gốc của nhãn theo Hán Việt được phiên âm Việt hoá, dần trở thành thuần Việt.
(3) Tuy vậy theo chúng tôi, nên hiểu “Nhãn lồng” là một giống nhãn trong nhiều giống nhãn hiện có ở Hưng Yên, để gọi tên cho loại nhãn quả to hơn, cùi dầy hơn và ngon nhất so với những giống nhãn khác và để phân biệt với các giống nhãn khác (nhãn nước, nhãn thóc, nhãn đường phèn, nhãn gỗ…)
(4) Đề xuất: Để tôn vinh thương hiệu “Nhãn lồng Hưng Yên”, ta nên dành cái tên “danh giá” này để gọi tất cả những loại nhãn có hình dáng cuống dài, quả to, vỏ căng, cùi dày, có nhiều lớp xếp lồng lên nhau, mọng nước, hương thơm vị ngọt thanh là “Nhãn lồng Hưng Yên”. Không nhất thiết phải phân biệt sâu (Hương Chi, cùi cổ, cùi vân …) vì bản chất của những giống nhãn này là nhãn lồng, những cái tên đó mới được các hộ dân lai tạo giống đặt tên trong thời gian một vài chục năm gần đây.
IV. NHÃN HƯNG YÊN, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ DI SẢN VÀ THƯƠNG HIỆU
Nhãn Hưng Yên không đơn thuần chỉ dừng lại ở giá trị kinh tế và dân sinh. Xuyên suốt hàng ngàn năm, cây nhãn ở với đất và người Hưng Yên, giá trị của “Nhãn Hưng Yên” là sự kết tinh tổng hoà những giá trị của thương hiệu, gắn bó chặc chẽ với đời sống dân cư, nhãn Hưng Yên xứng đáng trở thành Di sản và mang trong nó những giá trị văn hoá xã hội lớn hơn. Trong khuôn khổ bài viết, xin đưa ra một số ý kiến có tính gợi mở như sau:
1. Về kinh tế: Các số liệu thống kê hàng năm dễ dàng cho chúng ta những số liệu về nguồn lợi kinh tế mà “Nhãn Hưng Yên” mang lại cho tỉnh Hưng Yên nói chung, đời sống của các hộ dân Hưng Yên nói riêng. Chúng ta còn nhớ những năm khó khăn, nhưng người dân vùng nhãn vẫn có cuộc sống sung túc. Nhiều hộ dân, nhà chỉ cần có 1 hoặc vài gốc nhãn là đã cơ bản trang trải cho cuộc sống.
Các sản phẩm như: quả nhãn tươi, mật ong, long nhãn … sản phẩm kết hợp với nhãn như hạt sen long nhãn, chè sen long nhãn, long nhãn là vị thuốc đông y bồi bổ sức khoẻ … ngàn đời vẫn là những sản phẩm giá trị cao, mà những sản phẩm cùng loại không đâu so sánh được.
2. Về văn hoá: Hưng Yên hàng trăm năm, nhất là vùng Phố Hiến đã trở thành “Vùng văn hoá nhãn”. Mỗi năm mùa hoa nhãn, hay mùa nhãn chín đều gợi lên hình ảnh một vùng quê nhãn mang nét đặc thù riêng có. Những năm gần đây mở ra một hoạt động du lịch gọi là “Du lịch trải nghiệm” đến các miệt vườn nhãn Hưng Yên hái quả, "check-in" trong vườn nhãn, thăm viếng các di tích Phố Hiến xưa và thưởng thức các món ẩm thực đặc sản vùng Phố Hiến Hưng Yên.
3. Về xã hội: Hàng trăm năm, hình thành vùng dân cư trồng nhãn với môi trường xã hội an lành, người dân hiền hoà, cần cù chăm chỉ, đoàn kết, ít tệ nạn là bản sắc của người Hưng Yên.
Hình thành các làng nghề, những nghệ nhân tổ chức sản xuất chế biến sản phẩm từ nhãn Hưng Yên. Hầu như không có người thất nghiệp, công ăn việc làm ổn định quanh năm, có thu nhập chính đáng cho cả người giả và trẻ em những lúc nông nhàn, các kỳ nghỉ của các em học sinh.
Nhãn trao truyền thế hệ. Các thế hệ truyền lại cho thế hệ sau tài sản được tính bằng gốc nhãn, nghề trồng nhãn, chế biến nhãn và giao thương sản phẩm từ nhãn.
4. Về môi trường: Đất Hưng Yên có điều kiện tự nhiên về thời tiết, khí hậu, thuỷ văn thuận lợi; hiếm khi thiên tai, gió bão lũ lụt, là lợi thế cho cây nhãn Hưng Yên phát triển. Ngược trở lại những vườn nhãn Hưng Yên quanh năm xanh tốt, ít rụng lá đóng vai trò bảo vệ đất và nguồn nước; như như những "lá phổi xanh", hay một thảm thực vật bền vững, mang lại tác động kép bảo vệ môi trường, cung cấp bóng mát, tạo bầu không khí trong lành, ôn hoà, nâng cao sức khoẻ cộng đồng.
5. Nguồn cảm hứng cho những sáng tạo văn học nghệ thuật: Hưng Yên là quê hương của nhiều nhà văn hoá, nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ, nhạc sĩ có tên tuổi, thời nào cũng có.
Nhãn tạo cảm hứng để có những tác phẩm để đời và từ văn hoá nhãn đã khơi nguồn cho nhiều cảm hứng sáng tạo về mảnh đất con người nơi đây. Chúng ta có thể kể rất nhiều những tác phẩm về nhãn Hưng Yên; đáng kể như: “Nhãn đầu mùa” (Tiểu thuyết - tác giả Xuân Tùng - Trần Thanh), Ca khúc “Vườn nhãn quê hương” (Tác giả Vĩnh Cát), “Mùa nhãn chín” (Tác giả Phạm Minh Tuấn- Nguyễn Khắc Hào), “Em ơi, mùa nhãn chín” (Tác giả Nguyễn Đức Toàn - Nguyễn Khắc Hào) … cùng rất nhiều các tác phẩm thơ ca và các thể loại VHNT khác.
V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU NHÃN LỒNG HƯNG YÊN
Nhiều năm qua, nhất là từ khi tái lập tỉnh Hưng Yên cũ, chính quyền và các cơ quan chuyên môn của tỉnh đã quan tâm, có nhiều giải pháp bảo tồn và phát triển cây đặc sản nhãn lồng Hưng Yên. Như: hỗ trợ KHKT, một phần kinh phí. Đặc biệt là chính sách cho phép chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng nhãn, vải, từ đó tạo lập vùng nhãn vải ven sông Hồng rộng lớn.
Tuy vậy, sự quan tâm đó mới chỉ là những chỉ đạo mang tính sự vụ, chưa có được một quy hoạch tương xứng, lâu dài với tầm một thương hiệu và di sản để phát triển và hội nhập thương mại quốc tế. Xin đưa ra một số giải pháp và kiến nghị:
1. Quản lý của nhà nước
- Phân định rõ trách nhiệm của nhà nước và người dân vùng nhãn. Nhà nước phải làm những việc mà dân không làm được, như: quy hoạch, khoa học kỹ thuật, giống, thị trường, hỗ trợ rủi ro. Chính quyền cần thiết lập các cơ quan chuyên trách và đội ngũ chuyên gia, thành lập các bộ phận chức năng trong các cơ quan QLNN: KHCN, NNMT, chính quyền địa phương …
- Quy hoạch và xác định mục tiêu: Nhãn lồng Hưng Yên là sản phẩm thương hiệu mang lại giá trị cần bảo tồn và phát triển thương hiệu. Muốn coi nhãn là di sản và tham vọng phát triển thương hiệu thì trước hết phải đặt nhiệm vụ đó dưới sự bảo trợ và kiểm soát có mục tiêu của chính quyền cấp tỉnh. Xây dựng mục tiêu, lập quy quy hoạch, kế hoạch và hệ thống các giải pháp, phân công phân nhiệm, đầu tư kinh phí. Coi lợi ích của người dân vùng nhãn là lợi ích của nhà nước, của toàn xã hội.
Quy hoạch vùng nhãn và quản lý vùng nhãn, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng nhãn, vải trứng và một số cây ăn quả, con gia súc gia cầm theo hướng đặc sản.
Song song quy hoạch vùng, cần rà soát, đánh giá những vườn nhãn, gốc nhãn già, đeo biển cây di sản và có quy chế quản lý cây di sản. Những cây nhãn đẹp, nhãn quý, nhãn ngon, nhãn cổ thụ cần đeo biển quản lý, cải tạo giống hoặc nhân giống, chăm sóc theo chế độ riêng.
- Bảo tồn, phát triển và quản lý thương hiệu. Muốn phát triển thương hiệu thì cần duy trì chất lượng, quản lý và cải tạo giống một cách đồng bộ. Tránh tình trạng tự phát của của các hộ dân. Trong đó yếu tố khoa học kỹ thuật và hành lang pháp luật là quan trọng.
- Đẩy mạnh môi trường văn hoá du lịch và quảng bá sản phẩm bằng tất cả các hình thức có thể: Tuyên truyền quảng bá, sáng tác và phổ biến tác phẩm VHNT, xây dựng chuẩn mực đời sống văn hoá vùng nhãn …
- Coi trọng chuyên gia và cơ quan chuyên môn. Vai trò của lãnh đạo quản lý là xây dựng mục tiêu, tạo hành lang, khuyến khích và kiểm tra, còn lại là công việc của chuyên gia và kinh nghiệm của người dân, tránh tình trạng hoặc là buông lỏng hoặc ồm đồm, lấn sân.
Cần coi trọng khâu kiểm tra đánh giá, cơ quan nhà nước không chỉ nắm tình hình, lấy số liệu báo cáo mà phải là người tạo hành lang và bà đỡ cho thương hiệu.
- Hồ sơ công nhận Di sản, xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu và thị trường. Công việc lập hồ sơ di sản và đề nghị quốc tế công nhận là Di sản, ta có thể làm được vì nhãn lồng Hưng Yên xứng đáng, nhưng duy trì và phát triển nó một cách chuyên nghiệp làm cho thương hiệu phát triển thì đòi hỏi rất nhiều yếu tố. Tránh tình trang lập hồ sơ và công nhận xong thì lại đâu để nguyên đó.
2. Vai trò của người dân và làng nghề
Nói đến thương hiệu “Nhãn Hưng Yên” không thể không nói đến người dân vùng nhãn là một nhân tố của thương hiệu và Di sản.
Phần công lao lớn phải ghi nhận đó là vai trò của người dân ở các vùng trồng nhãn. Chính người dân, các hộ dân trồng nhãn, các làng nghề là những người có công lớn trong bảo tồn, phát triển thương hiệu nhãn Hưng Yên. Điều đó có mặt tích cực như ta đã thấy, nhưng cũng kéo theo hạn chế đó là sự lẻ tẻ, manh mún, phân tán, thiếu đồng bộ nên đặc sản nhãn Hưng Yên trong bối cảnh hội nhập thị trường quốc tế hiện nay gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận những thị trường lớn, nhất là xuất khẩu. Điều này, Sơn La là tỉnh phát triển vùng nhãn từ Hưng Yên chỉ khoảng mấy chục năm nay, nhưng họ đã khá thành công.
Người dân và làng nghề có vai trò quan trọng, mỗi người dân, hộ dân vùng nhãn đều phải có kiến thức KHKT về:
- Trồng nhãn, chăm sóc nhãn bằng phương pháp KHKT trên cơ sở hành lang pháp luật về giống, thu hoạch và thị trường.
- Các làng nghề sản xuất, chế biến sản phẩm từ nhãn cần tăng cường tính liên kết các hộ dân, đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm đảm bảo uy tín, chất lượng, coi lợi ích của mỗi gia đình là lợi ích chung và lâu dài.
3. Kiến nghị
3.1. Ứng dụng công nghệ cao vào canh tác và chế biến sau thu hoạch
Mở rộng vùng VietGAP: Hỗ trợ kinh phí cho người dân chuyển đổi sang mô hình chuẩn VietGAP.
Chuyển giao kỹ thuật, trẻ hóa vườn nhãn: Hỗ trợ nguồn giống chất lượng cao để thay thế các diện tích nhãn già cỗi, năng suất thấp. Đầu tư sâu vào công nghệ chế biến sau thu hoạch. Đa dạng hóa sản phẩm, khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu các sản phẩm mới như nước ép nhãn, rượu nhãn, mật ong hoa nhãn…
3.2. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và bảo hộ thương hiệu
Quan điểm phát triển thương hiệu không chạy theo số lượng, mà là uy tìn và chất lượng. Giá trị sản phẩm ngày nay nằm ở chất lượng. Thương hiệu là sự tích hợp của các yếu tố: Chất lượng, uy tín được duy trì đồng bộ, ổn định lâu dài … Nhà nước cần khẳng định giá trị của thương hiệu bằng các giải pháp thương mại.
3.3. Phát triển vùng du lịch sinh thái
Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái song song quảng bá văn hoá vùng nhãn Hưng Yên. Cần xây dựng logo cho thương hiệu nhãn Hưng Yên. Logo cần tích hợp được tính biểu tượng và thẩm mỹ cao. Kết hợp yếu tố kinh tế và văn hoá trong ứng xử với nhãn.
Song song triển khai thực hiện “Dự án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến, gắn với du lịch”, kết hợp nâng cao một bước Di sản văn hoá nhãn lồng Hưng Yên.
3.4. Đầu tư nghiên cứu khoa học
Nhà nước cần đầu tư NCKH để giải quyết một số vấn đề của nhãn Hưng Yên mà hiện tại còn chưa nghiên cứu hoặc ý kiến chưa thống nhất: (1) Nguồn gốc của cây nhãn; (2) Nhận diện nhãn lồng trong các giống nhãn ở Hưng yên, nên chăng thống nhất cách gọi tên các loại nhãn cùi quả to, vỏ mỏng là nhãn lồng, không nhất thiết phân nhỏ (nhãn cùi cổ, cùi vân…) những tên đó trước kia đã có chưa, hay mới có gần đây; (3) Nhãn Hưng Yên ngon do giống, kỹ thuật trồng hay do điều kiện tự nhiên; (4) Đặc biệt quan tâm rà soát và trồng mới vườn gien nhãn và giống nhãn quý Hưng yên; (5) Phục vụ nghiên cứu khoa học, nhập một số cây nhãn từ Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia về trồng đối chứng ở Phố Hiến để có những kết luận khoa học.
3.5. Tăng cường quản lý nhà nước, từng bước hình thành sự khác biệt: những con đường nhãn, thành phố nhãn Hưng Yên
Kiến nghị nhà nước xây dựng mục tiêu “Thành phố nhãn”, trồng nhãn hạt suốt dọc “Con đường Di sản” và trồng nhãn bắt buộc ở các tuyến đường của thành phố.
Hàng nhãn ven đê sông Hồng cũng như những gốc nhãn cổ trong và ngoài thành phố có tuổi đời hàng trăm năm phải được coi là nhãn di sản và phải được nhà nước quản lý song song với những cơ chế ưu đãi.
Nhà nước độc quyền tuyển chọn và quản lý nguồn gien nhãn, quản lý tên gọi giống nhãn. Nên nhớ những năm tử 1990 về trước thị xã Hưng Yên có 2 điểm bán nhãn trả hạt là cây nhãn tổ và vườn ươm thành phố (tại khu gần bệnh viện Đa khoa tỉnh). Không bán theo cân, mỗi người chỉ được mua 100 quả, kể cả nhãn biếu và phải trả lại hạt.
KẾT LUẬN
Nhìn từ lăng kính di sản và thương hiệu, nhãn Hưng Yên không chỉ là một thức quà nông nghiệp bản địa, mà đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể và là đại sứ thương hiệu nâng tầm kinh tế vùng.
Nghiên cứu, tiếp cận nhãn Hưng Yên dưới góc độ Di sản Văn hoá và Thương hiệu là một trong những phương pháp tiếp cận mới và rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta thêm một bước nhận thức về vai trò của nhãn với mảnh đất, con người Hưng Yên.
Trên cơ sở những luận cứ và quản điểm cá nhân mà tác giả đưa ra, hy vọng góp phần nhỏ vào các nghiên cứu về nhãn Hưng Yên, giúp các nhà quản lý và người dân đưa cây nhãn đặc sản chính thức trở thành Di sản, thương hiệu làm đẹp, làm giầu thêm cho quê hương Hưng Yên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đất Hưng Yên - Ty Nông Lâm Hưng Yên 1968 (Phạm Như Tiên, Cao Liêm, Vũ Văn Hoạch)
- Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phố Hiến - UBND tỉnh Hải Hưng 1994
- Hà Nội thời tiền Thăng Long” - NXB Hà Nội 2010 (TS. Nguyễn Việt)
- Phố Hiến - NXB Khoa học xã hội 2014 (Nguyễn Khắc Hào – Nguyễn Đình Nhã chủ biên)
- Báo cáo tổng kết Dự án “Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Long nhãn Hưng Yên” của UBND tỉnh Hưng Yên (sở Khoa học và Công nghệ Hưng Yên 2020)7
TS. Nguyễn Khắc Hào