Giữa không gian tĩnh lặng của làng quê Bắc Bộ xưa, có một ngôi chùa cổ nằm ẩn mình dưới những tán lá xanh mát, nơi thời gian dường như ngưng đọng trên từng thớ gỗ đen bóng. Đó là chùa Thái Lạc (Pháp Vân tự) tọa lạc tại xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm (nay là xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên) - một trong ba công trình kiến trúc gỗ thời Trần cổ nhất Việt Nam cùng với chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Bối Khê (Hà Nội). Không chỉ là chốn thiền môn thanh tịnh, nơi đây còn lưu giữ một kho tàng vô giá: những bức cốn chạm khắc thời Trần với hình ảnh tiên nữ dâng hoa, tấu nhạc. Những nét chạm trổ tinh xảo ấy tựa như bản hòa âm của quá khứ, biến những khối gỗ vô tri thành những “phím nhạc” trầm bổng, ngân vang như đang kể lại câu chuyện về một triều đại huy hoàng và đời sống tâm linh phong phú của người Việt xưa.

Mặt tiền chùa Thái Lạc (Pháp Vân tự)
Cũng như bao ngôi chùa khác, chùa Thái Lạc là dấu ấn hiện hữu của Phật giáo trên mảnh đất Hưng Yên. Nơi đây ngoài thờ Phật còn là nơi thờ thần Pháp Vân - một trong bốn vị thần Tứ Pháp có nguồn gốc ở vùng Dâu (Bắc Ninh). Sự tích Phật bà Pháp Vân gắn liền với sự tích Man Nương và tục thờ Tứ Pháp được lưu truyền từ thế kỷ thứ II và được ghi chép trong rất nhiều truyện, sách cổ xưa như: Lĩnh Nam Chích Quái (cuối thế kỷ XV), Pháp Vân cổ tự ký của Lý Tử Tấn (đầu thế kỷ XV), đặc biệt tại Chùa Dâu hiện còn lưu lại bản khắc gỗ Cổ Châu Phật bản hạnh và Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục được khắc vào thời Hậu Lê niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 (1752). Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục là cuốn sách song ngữ Hán Nôm, còn Cổ Châu Phật bản hạnh là truyện thơ lục bát Nôm. Hai tác phẩm này đều nói về sự tích Man Nương, được coi là biên soạn từ thế kỷ XV, đến thế kỷ XVIII thì san định lại, nội dung kể về sự tích Man Nương và sự ra đời của Tứ Pháp được tóm tắt như sau: Khi xưa ở làng Mãn Xá (phía Tây Nam làng Dâu) có ông bà Tu Định và Ưu Di sinh được người con gái đặt tên là Man Nương. Do rất phục phép màu của sư Khâu Đà La nên ông bà Tu Định bèn cho Man Nương theo thầy học đạo tại chùa Linh Quang. Đến năm 12 tuổi, nàng đã được thầy truyền cho nhiều phật pháp. Một hôm, Khâu Đà La đi hành lễ về muộn thấy Man Nương nằm ngủ chắn lối đã vô ý bước qua người nàng, từ đó Man Nương có thai. Qua 14 tháng mang thai, đến ngày mồng 08 tháng 04, Man Nương sinh hạ một người con gái, nàng liền đem đứa bé đến chùa trả cho sư Khâu Đà La. Khâu Đà La mang đứa bé đến gốc cây Dung Thụ, dùng cây tầm xích gõ vào thân cây rồi đọc kệ. Cây bỗng mở rộng thân mình, ôm đứa bé vào lòng. Sau đó, ngài trao cho Man Nương cây gậy tầm xích và dặn khi nào trời hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu nhân dân. Sau khi sư về Tây Trúc hạn hán kéo dài 3 năm, ruộng đồng khô nẻ, dân tình đói khổ. Nhớ đến lời dặn của nhà sư, Man Nương liền đem cây gậy thần cắm xuống đất. Ngay lập tức nước phun lên, cây cối, ruộng đồng lại tươi tốt và chúng sinh thoát nạn hạn hán.
Vào năm Giáp Tý nọ, trời đất mưa gió đùng đùng, cây Dung Thụ đổ xuống theo sông Thiên Đức trôi đến cửa thành Luy Lâu thì dừng lại. Sĩ Vương thấy vậy cho quân lính ra lôi cây lên bờ nhưng không tài nào lôi được. Khi Man Nương tung dải yếm ra, cây bèn nương theo dải yếm mà dạt vào bờ. Đêm hôm ấy, thần nhân báo mộng cho Sĩ Vương khuyên đem cây gỗ tạc tượng mà thờ thì sẽ có phúc lớn. Sĩ Vương nghe theo, sai Đào Lượng tạc cây gỗ làm bốn pho tượng, khai quang điểm nhãn rồi đem thờ ở bốn ngôi chùa xung quanh. Bốn pho tượng được đặt tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Pháp Vân được coi là chị cả (bà Cả) được thờ ở chùa Dâu (Diên Ứng tự), Pháp Vũ là chị hai được thờ ở chùa Đậu (Thành Đạo tự), Pháp Lôi là chị ba được thờ ở chùa Phi Tướng (Phi Tướng tự) và Pháp Điện là em út được thờ ở chùa Dàn (Phương Quan tự). Khối đá trong thân cây được gọi là Thạch Quang Phật (Phật đá tỏa sáng) thờ tại chùa Dâu cùng tượng phật Pháp Vân. Man Nương sau đó không bệnh mà chết được nhân dân lập đền thờ cùng cha mẹ ngay trên nền nhà cũ và tôn làm Phật Mẫu.
Sự tích Tứ Pháp tổng Thái Lạc kể tiếp rằng: Cành lớn của cây Dung Thụ được người vùng Dâu chia làm bốn đoạn đem bán. Một buổi sáng người tổng Thái Lạc mua được ba đoạn khiêng về, chờ buổi chiều mua nốt đoạn còn lại, buổi trưa mọi người thử đòn nào ngờ cả đòn khiêng và khúc gỗ vụt bay theo đoàn người đi trước. Thấy vậy, người dân Luy Lâu đuổi theo đòi lại. Nhưng đoàn người đuổi theo đến đâu thì trời đổ mưa tới đó nên người vùng Dâu để cho người tổng Thái Lạc mang về. Người dân Thái Lạc đã thuê ông Đào Khảm và Đào Lượng lấy bốn đoạn cành dâu tạc thành bốn pho tượng mẫu nhỏ. Ban ngày, các ông tạc tượng tại chùa Thái Lạc, ban đêm lại về ngủ tại chùa Un (nay thuộc xã Đình Dù, huyện Văn Lâm). Đến thời Mạc, dựa vào mẫu tượng này, dân làng dùng gỗ mít tạc thành bốn pho tượng Tứ Pháp còn thờ đến ngày nay. Bốn pho tượng mẫu nhỏ được thờ cùng phía trước tượng lớn nay vẫn còn. Tượng Pháp Vân thờ ở chùa Thái Lạc, tượng Pháp Vũ thờ ở chùa Hồng Cầu, tượng Pháp Lôi thờ ở chùa Nhạc Miếu, tượng Pháp Điện thờ ở chùa Phạm Thái. Trong dân gian vẫn gọi bốn bà lần lượt là bà Cả, bà Quê, bà Huế và bà Tông.

Vì nóc Thượng điện chùa Thái Lạc
Theo thư tịch cổ, chùa Thái Lạc được khởi dựng vào khoảng thời Trần (1225 - 1400), trên một gò đất cao, mà dân gian vẫn thường nói như ở trên lưng rùa. Trước cửa chùa là một con sông, hai bên nước chảy ra ra sông, như hai rồng con chầu vào rồng mẹ, như hướng rồng chầu hổ phục. Ngày nay, chùa có bình đồ kiến trúc kiểu "Nội công ngoại quốc" gồm: 09 gian Tiền đường, 02 gian Thiêu hương, 03 gian Thượng điện, 07 gian nhà Tổ, hai dãy hành lang mỗi dãy 07 gian, 03 gian nhà Mẫu và khu vườn tháp. Các hạng mục kiến trúc được bố trí đăng đối, hài hoà nằm trên trục đối xứng từ Tam quan đến nhà Mẫu. Mặt tiền chùa quay hướng Đông Nam. Hệ thống tượng Phật tại chùa được bài trí theo lối “Tiền thần hậu phật”.

Mảng chạm "Tiên nữ tấu nhạc"
Chùa đẹp và nổi tiếng không chỉ bởi vẻ ngoài đồ sộ, rộng lớn mà còn bởi nơi đây là một kho tàng “vô tiền khoáng hậu” về nghệ thuật điêu khắc kiến trúc gỗ truyền thống của dân tộc. Thượng điện chùa Thái Lạc là nơi lưu giữ 20 bức phù điêu gỗ cổ mang phong cách thời Trần mà ở đó có những tiêu bản là duy nhất. Bộ vì nóc tại đây được tạo tác theo kiểu “giá chiêng” trong lồng lá đề chạm cảnh hai tiên nữ đầu người mình chim đang dâng hoa. Loại hình này ở nước ta rất hiếm, ngoài chùa Thái Lạc chỉ còn thấy ở chùa Dâu và chùa Bối Khê. Giữa các xà, cột là những bức cốn còn khá nguyên vẹn với nhiều đề tài trang trí đặc sắc khác nhau. Trên thân cột trụ chạm hình phỗng quỳ đỡ đài sen. Trên các ván nong nơi hai tiên nữ đang cưỡi phượng, người thổi tiêu, người kéo nhị, nơi khác tiên nữ lại thổi sáo, đánh đàn. Hoặc cũng có cảnh tiên nữ đầu người mình chim đang giơ tay dâng hoa. Độc đáo hơn cả còn chạm cảnh một dàn nhạc ba người với một người đàn ông ngồi đánh đàn tranh, hai người phụ nữ ở hai bên mang đàn tỳ bà và đàn tam. Đây là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình có giá trị độc đáo, một vốn tài liệu quý giúp chúng ta hiểu biết về nền âm nhạc cổ của cha ông. Bên cạnh đó là bức cốn cổ chạm rồng thời Lý và thời Trần kết hợp với những lớp hoa văn được bố trí dày đặc đồng đẳng làm nên vẻ đẹp hoàn mỹ cho công trình. Có thể khẳng định, những bức cốn cổ mang phong cách thời đại nhà Trần hiện chỉ còn được lưu giữ tại Thượng điện chùa Thái Lạc. Qua những tác phẩm điêu khắc độc đáo này ta có thể gián tiếp thấy lại hình vẽ của nghệ thuật hội họa. Người nghệ sỹ khi dựng chùa Thái Lạc đã dùng đục nẩy trên gỗ rắn, những đường nét như được vẽ bằng bút. Hình chạm nổi mà chất hội họa đậm hơn cả điêu khắc, nét chạm như nét vẽ, tinh xảo, thoải mái, mềm mại và uyển chuyển. Tất cả hội tụ bởi tài khéo léo của người nghệ nhân dân gian, họ đã gửi gắm tình cảm của mình vào từng đường nét, thớ gỗ, từng pho tượng tại ngôi chùa. Đồng thời, góp phần miêu tả một cách ngắn gọn súc tích về đời sống xã hội và nghệ thuật Phật giáo nước Đại Việt lúc bấy giờ.
Qua nhiều thế kỷ vươn mình cùng tuế nguyệt, chùa Thái Lạc hiện vẫn còn bảo lưu được một số cổ vật có giá trị lịch sử, kiến trúc, điêu khắc cần được giữ gìn, bảo vệ và nghiên cứu lâu dài như: 20 bức phù điêu gỗ cổ; 03 bia đá (thế kỷ XVI - XVII), chuông đồng (Nguyễn), gạch cổ (thời Mạc), tượng thần Pháp Vân (thế kỷ XVII); tượng Phật;… Ngày nay, mỗi khi chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật tại đây, chúng ta lại thêm tự hào về tài khéo léo, sự sáng tạo tuyệt mỹ trong lao động nghệ thuật của các thế hệ đi trước.

Trò đánh Trăng/Giăng tại Lễ hội Cầu mưa chùa Thái Lạc
Không chỉ là nơi ngưng đọng những tuyệt tác điêu khắc, chùa Thái Lạc còn là tâm điểm của dòng chảy văn hóa tâm linh qua Lễ hội Cầu mưa (Lễ hội chùa Thái Lạc) - một phong vị hội hè rực rỡ sắc màu của cư dân lúa nước. Gắn liền với tín ngưỡng thờ Tứ Pháp cổ xưa, lễ hội là tiếng lòng thành kính của người nông dân gửi gắm vào đất trời, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi. Hằng năm, lễ hội tại di tích được diễn ra từ ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng 3 (âm lịch) với những nghi thức rước nước, rước kiệu Tứ Pháp đầy uy nghiêm. Nhưng có lẽ, điểm nhấn độc đáo và lôi cuốn nhất, tạo nên bản sắc riêng biệt của mảnh đất Như Quỳnh chính là trò diễn đánh Trăng/Giăng. Trên sân chùa rêu phong, những chàng trai lực lưỡng khoác lên mình chiếc khố được chế tác kỳ công - từ kỹ thuật đúc thiếc, đổ khuôn chân chì hạt bột đến cách đóng khố bằng thừng thắt. Những bước chạy uốn lượn, nhịp nhàng theo hình xoắn chôn ốc không chỉ là một trò diễn dân gian, mà còn là biểu tượng cho sự vận hành của vũ trụ, là khát vọng về một cuộc sống no ấm, bình an của bao thế hệ người dân nơi đây. Đây là một trong những nét đặc trưng riêng chỉ có trong Lễ hội Cầu mưa tại xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên.
Sau những thăng trầm của thời gian, về thăm chùa Thái Lạc hôm nay ta vẫn cảm nhận được một không gian cổ kính với những dấu ấn văn hóa xưa còn khá đậm nét. Chùa cất giữ trong mình tất cả những huyền tích, giá trị kiến trúc độc đáo thể hiện trí tuệ tuyệt vời của các nghệ nhân thời Trần. Ngôi chùa thực sự là một điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn cho mỗi du khách khi về với vùng quê văn hiến Hưng Yên. Với những giá trị tiêu biểu và đặc sắc, chùa Thái Lạc đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích “Kiến trúc nghệ thuật” cấp Quốc gia đặc biệt năm 2018. Năm 2022, Lễ hội Cầu mưa tại chùa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia./.
Kim Cúc