Nằm giữa vùng quê giàu truyền thống văn hóa của xã Nam Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên, chùa Vô Hối - tên chữ là Khánh Linh tự từ lâu đã trở thành một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng quen thuộc của nhân dân địa phương. Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, ngôi chùa cổ vẫn lưu giữ được dáng vẻ trầm mặc, cổ kính cùng một hệ thống di sản Hán Nôm tương đối phong phú gồm bia đá, cây hương đài, chuông đồng và nhiều hiện vật quý khác. Đây không chỉ là những cổ vật có giá trị về mỹ thuật mà còn là nguồn sử liệu gốc đặc biệt quý giá, phản ánh lịch sử hình thành, quá trình trùng tu, đời sống tín ngưỡng cũng như diện mạo văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương qua nhiều thế kỷ.
Năm 2024, chùa Vô Hối được Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình (cũ) xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 1943/QĐ-UBND ngày 19/11/2024. Việc xếp hạng di tích không chỉ khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa của ngôi chùa mà còn cho thấy ý nghĩa đặc biệt của hệ thống di sản Hán Nôm hiện còn lưu giữ tại đây. Trong bối cảnh nhiều di tích cổ ở địa phương đã bị xuống cấp hoặc thất lạc hiện vật theo thời gian, việc một ngôi chùa làng còn bảo tồn được tương đối đầy đủ hệ thống văn bia, minh văn và hiện vật cổ như chùa Vô Hối là điều rất đáng quý.

Toàn cảnh chùa Vô Hối (Khánh Linh tự), xã Nam Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên.
Hiện nay chùa còn lưu giữ được 11 bia đá, 02 cây hương đài và 01 chuông đồng có niên đại trải dài từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Trong số đó có các hiện vật thời Lê Trung Hưng như bia năm Chính Hòa thứ 13 (1692), bia năm Chính Hòa thứ 16 (1695), hai cây hương đài niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707); các hiện vật còn lại chủ yếu được tạo dựng dưới thời Nguyễn từ năm Gia Long 17 (1818) đến năm Duy Tân Tân Hợi (1911).
Hệ thống hiện vật này khá đa dạng về loại hình, gồm bia hậu, bia công đức, bia trùng tu, bia văn từ, minh văn chuông đồng và minh văn hương đài. Nội dung các văn bia chủ yếu ghi chép việc dựng chùa, sửa chùa, ghi danh những người phát tâm công đức, phản ánh phong tục tín ngưỡng cũng như đời sống văn hóa của cộng đồng làng xã xưa. Đây đều là những hiện vật gốc độc bản, có giá trị đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử địa phương, lịch sử Phật giáo, mỹ thuật truyền thống và Hán Nôm học.
Nhìn vào hệ thống bia đá hiện còn tại chùa Vô Hối, có thể thấy đây không chỉ là những tấm bia ghi công đức thông thường mà còn là những “trang sử bằng đá” phản ánh khá đầy đủ đời sống xã hội và tín ngưỡng của người dân địa phương trong xã hội phong kiến. Qua từng dòng chữ Hán còn lưu trên mặt bia, người hôm nay có thể hình dung được diện mạo của ngôi chùa trong quá khứ, những lần trùng tu lớn nhỏ, tên tuổi của những người có công với di tích, cũng như phần nào cảm nhận được đời sống tinh thần và tâm thức văn hóa của cư dân làng quê Bắc Bộ xưa.
Trong số các văn bia hiện còn, bia niên hiệu Chính Hòa thứ 13 (1692) là tư liệu đặc biệt quan trọng. Bia gồm hai mặt với tên gọi “抄文保碑記- Sao văn bảo bi kí” và “後佛碑記- Hậu phật bi kí”, nội dung ghi lại việc ông Nguyễn Duy Phúc tự Mộ Đức cùng gia đình đã phát tâm công đức 30 quan thanh tiền để tu sửa chùa Khánh Linh và đình làng khi công trình bị hư hỏng nghiêm trọng. Sau khi hoàn thành việc tu sửa, diện mạo ngôi chùa trở nên nguy nga, tráng lệ với “gác cao, lầu đẹp rực rỡ”, “cung tòa nguy nga tráng lệ”, “tòa thượng điện cao vời vợi”.
Qua lời văn trên bia có thể thấy vào cuối thế kỷ XVII, chùa Khánh Linh đã là một công trình tín ngưỡng có quy mô khá lớn trong vùng. Những dòng chữ Hán được chạm khắc trên đá không chỉ đơn thuần phản ánh việc tu sửa di tích mà còn cho thấy niềm tự hào của người dân địa phương đối với ngôi chùa quê hương.
Đặc biệt, mặt thứ hai của bia còn mô tả khá sinh động cảnh quan cổ của chùa Vô Hối. Theo nội dung văn bia, phía trước chùa có dòng sông lớn chảy thông ra biển, phía sau là núi cao trùng điệp, phía Tây Bắc có giếng cổ bằng đá xanh, phía Đông Nam có cây cổ thụ tán rộng che phủ cả khu vườn. Qua lời văn biền ngẫu trau chuốt, cảnh chùa hiện lên như một bức tranh sơn thủy hữu tình, vừa thanh tĩnh vừa linh thiêng. Những ghi chép ấy ngày nay có giá trị đặc biệt quan trọng bởi không chỉ giúp nghiên cứu lịch sử di tích mà còn góp phần tìm hiểu môi trường cư trú, cảnh quan văn hóa và tư duy phong thủy của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ thời xưa.
Nếu bia năm Chính Hòa thứ 13 phản ánh quy mô và cảnh quan của chùa Khánh Linh cuối thế kỷ XVII thì bia năm Chính Hòa thứ 16 (1695) lại cho thấy truyền thống công đức, hộ trì Tam bảo của nhân dân địa phương. Bia ghi việc bà Phạm Thị Muộn hiệu Diệu Sinh đã bỏ tiền của tu sửa chùa nên được dân làng tôn làm hậu Phật, lập bia lưu danh và tạc tượng thờ trong chùa để đời sau ghi nhớ công lao.
Điểm đặc biệt của tấm bia này là phần chính giữa được chạm nổi tượng bà Phạm Thị Muộn trong tư thế ngồi đoan trang, khuôn mặt hiền từ, tóc búi cao, cổ đeo tràng hạt, hai tay kết ấn theo phong cách tượng Phật giáo dân gian. Từ khuôn mặt, ánh mắt, dáng ngồi đến các nếp áo đều được nghệ nhân thể hiện khá mềm mại và chân thực. Với kỹ thuật chạm nổi sâu và giàu tính tả thực, tác phẩm cho thấy trình độ điêu khắc đá rất tinh xảo của nghệ nhân dân gian thời Lê Trung Hưng.
Không chỉ phản ánh lịch sử của ngôi chùa, các văn bia còn giúp người đọc hôm nay hiểu thêm về đời sống xã hội và đạo lý truyền thống của cư dân làng quê xưa. Trong nội dung các bia, việc công đức xây dựng chùa chiền luôn được xem là hành động tích đức, hướng thiện và để lại phúc lành cho con cháu đời sau. Vì vậy những người có công lớn thường được dân làng tôn làm hậu Phật, lập bia ghi công và hương khói phụng thờ lâu dài.
Bước sang thời Nguyễn, chùa Vô Hối tiếp tục được nhân dân địa phương quan tâm tu sửa và tôn tạo. Văn bia năm Gia Long thứ 17 (1818) cho biết khi chùa bị xuống cấp, bà Nguyễn Thị Kỳ hiệu Từ Tuyên đã phát tâm công đức 100 quan tiền để sửa chữa chùa và được dân làng tôn làm hậu Phật. Đến các năm Tự Đức thứ 13 (1860), Tự Đức thứ 18 (1865), nhiều văn bia tiếp tục ghi chép việc nhân dân địa phương đóng góp tiền của, ruộng đất để trùng tu chùa Đông, chùa Tây và các công trình tín ngưỡng liên quan.
Đáng chú ý, trong hệ thống bia đá hiện còn tại chùa Vô Hối có nhiều bài ký, bài minh được biên soạn bởi những người có học vấn cao trong vùng, tiêu biểu là Phạm Thế Húc. Ông tên tự Ôn Như, hiệu Cẩn Hiên, quê tại làng Luyến Khuyết, tổng Đông Hồ, phủ Thái Bình xưa (nay thuộc xã Thụy Phong, tỉnh Hưng Yên). Sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng, là con của cử nhân Phạm Văn Diệu, em trai tiến sĩ Phạm Thế Hiển, ông đỗ cử nhân năm 1837 và đỗ Phó bảng năm 1843 dưới triều Nguyễn.
Trong thời gian làm quan, Phạm Thế Húc từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng liên quan đến giáo dục và văn thư triều đình như Hàn lâm viện kiểm thảo, Hàn lâm viện trước tác, Tri phủ Phú Vang, Đốc học Nam Định… Cuối đời, ông xin về quê mở trường dạy học, đồng thời tham gia phong trào yêu nước tại địa phương. Sự xuất hiện của tên tuổi Phạm Thế Húc trên các văn bia chùa Vô Hối cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa tầng lớp trí thức Nho học với đời sống văn hóa tín ngưỡng ở làng quê Bắc Bộ thế kỷ XIX.
Những bài minh bia do ông biên soạn không chỉ có giá trị sử liệu mà còn giàu chất văn chương, câu chữ trau chuốt, đối ngẫu chỉnh tề và giàu hình ảnh. Qua đó có thể thấy trình độ Hán học khá phát triển của vùng Đông Hồ - Đông Quan xưa, nơi từng sản sinh nhiều nho sĩ và trí thức nổi tiếng. Những dòng chữ Hán còn lưu trên bia đá không chỉ phản ánh lịch sử của một ngôi chùa làng mà còn cho thấy chiều sâu văn hóa của một vùng quê giàu truyền thống khoa bảng.
Qua hệ thống văn bia này có thể thấy các bài ký, bài minh không chỉ có giá trị sử liệu mà còn mang đậm sắc thái văn chương. Nhiều đoạn văn biền ngẫu được viết công phu, câu chữ giàu hình ảnh, vừa ca ngợi cảnh đẹp quê hương vừa gửi gắm tư tưởng hướng thiện và tinh thần từ bi của đạo Phật. Đây cũng là một giá trị nổi bật của di sản Hán Nôm tại chùa Vô Hối.

Nhà bia và hệ thống văn bia Hán Nôm hiện còn lưu giữ tại chùa Vô Hối.
Không chỉ có giá trị về nội dung, hệ thống bia đá tại chùa Vô Hối còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đặc sắc của thời Lê và thời Nguyễn. Trên các bia xuất hiện nhiều đề tài trang trí quen thuộc trong mỹ thuật truyền thống như lưỡng long chầu nhật, hổ phù ngậm chữ thọ, vân mây, cánh sen kép, dây hoa hay lá đề cách điệu. Các đường nét chạm khắc khá tinh xảo, bố cục cân đối, phản ánh rõ tay nghề khéo léo của những nghệ nhân dân gian xưa.
Bên cạnh hệ thống bia đá, chùa Vô Hối hiện còn bảo tồn được 02 cây hương đài bằng đá có niên đại Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707). Đây là những hiện vật quý hiếm còn sót lại của loại hình kiến trúc tín ngưỡng dân gian thời Lê. Hai cây hương đài đều được tạo tác theo dạng trụ biểu bốn mặt, phía trên đắp hình búp sen, thân chạm rồng uốn lượn trong mây cùng nhiều hoa văn dây lá cách điệu.
Nội dung minh văn trên hương đài ghi chép việc các quan viên và nhân dân địa phương dựng cây thiên đài để kính trời, cầu phúc cho dân làng. Qua những dòng chữ ấy có thể thấy tín ngưỡng dân gian truyền thống của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ luôn gắn bó hài hòa giữa đạo Phật với tín ngưỡng thờ trời, cầu phúc và cầu an.
Một cây hương đài hiện đặt ngoài trời mang tên “新造敬天柱慶靈寺
- Tân tạo kính thiên trụ Khánh Linh tự”, phần thân được chạm khắc khá công phu với hình rồng và hoa văn dây lá mềm mại. Cây còn lại hiện đặt tại nhà bia mang tên “祝天臺柱造東靈寺- Chúc thiên đài trụ tạo Đông Linh tự”, phần thân chủ yếu chạm hoa văn dây lá cách điệu cùng nhiều dòng chữ Hán.

Cây hương đài đá niên đại Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707) hiện còn tại chùa Vô Hối.
Ngoài hiện vật bằng đá, chùa Vô Hối còn lưu giữ một quả chuông đồng đúc năm Gia Long thứ 16 (1817) mang tên “修造洪鍾慶靈寺記- Tu tạo hồng chung Khánh Linh tự kí”. Chuông hiện treo tại gian giáp hồi tòa Tiền đường, quai chuông được tạo hình hai con rồng đấu lưng vào nhau tạo thành vòng cung, thân chuông đúc nổi nhiều ô chữ Hán ghi việc đúc chuông và ca ngợi vẻ đẹp của chùa Khánh Linh.
Nội dung bài minh trên chuông cho thấy người xưa coi tiếng chuông chùa không chỉ là âm thanh của tín ngưỡng mà còn là tiếng gọi con người hướng thiện, thức tỉnh tâm thức và gắn kết cộng đồng. Những dòng văn trên chuông mang màu sắc triết lý Phật giáo sâu sắc, thể hiện quan niệm về sự hòa hợp giữa con người với trời đất và niềm tin vào điều thiện trong đời sống dân gian truyền thống.
Trong không gian thanh tĩnh của ngôi chùa cổ, tiếng chuông ngân vang qua bao thế hệ không chỉ là âm thanh quen thuộc của làng quê mà còn như tiếng vọng của ký ức văn hóa. Quả chuông đồng vì thế vừa là pháp khí của nhà chùa, vừa là chứng nhân lịch sử gắn bó với đời sống tinh thần của nhân dân địa phương suốt nhiều thế kỷ.

Chuông đồng “Tu tạo hồng chung Khánh Linh tự kí” đúc năm Gia Long 16 (1817).
Một giá trị đặc biệt khác của hệ thống di sản Hán Nôm tại chùa Vô Hối là tính nguyên gốc và tính độc bản của hiện vật. Trong điều kiện nhiều thư tịch cổ của địa phương hiện không còn lưu giữ được, các văn bia, minh văn trên chuông đồng và hương đài trở thành nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử làng xã, lịch sử di tích, sự biến đổi địa danh hành chính cũng như đời sống văn hóa tinh thần của cư dân địa phương qua nhiều thời kỳ.
Nhiều bia còn xuất hiện chữ Nôm ghi tên người, tên làng xã và các từ ngữ dân gian, góp phần bổ sung nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu Hán Nôm học và lịch sử tiếng Việt. Qua hệ thống văn bia tại chùa Vô Hối, có thể nhận thấy sự giao thoa giữa văn hóa Phật giáo, tín ngưỡng dân gian và truyền thống Nho học trong đời sống xã hội làng quê Bắc Bộ thời phong kiến.
Có thể khẳng định rằng hệ thống bia đá, hương đài và chuông đồng tại chùa Vô Hối không chỉ có giá trị về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật mà còn là tài sản tinh thần quý báu của cộng đồng địa phương. Đây là những chứng tích vật chất phản ánh chiều sâu lịch sử và truyền thống văn hóa của vùng đất Nam Thụy Anh qua nhiều thế kỷ.
Trong bối cảnh nhiều di sản Hán Nôm đang đứng trước nguy cơ xuống cấp và mai một, việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị hệ thống hiện vật tại chùa Vô Hối có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc làm ấy không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn giúp thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về lịch sử quê hương, về những lớp trầm tích văn hóa được hun đúc qua bao đời trên vùng đất giàu truyền thống này.
Thùy Liên