Lăng mộ Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận tọa lạc tại cánh đồng "Bãi Quân", thuộc thôn Đạo Khê, xã Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên - một khu vực có địa thế và phong thủy đặc biệt, liền kề sông Lực Điền uốn lượn, tạo nên thế "Bạch Hổ hướng về Thanh Long" theo quan niệm địa lý phong thủy truyền thống. Căn cứ vào nội dung hai tấm bia hiện còn lưu giữ, có thể xác định khu lăng mộ được khởi dựng vào thế kỷ XVIII, dưới niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736).
Mặc dù trải qua nhiều thế kỷ, khu lăng mộ không còn được nguyên vẹn như thuở ban đầu, song những di vật còn lại vẫn mang giá trị nghệ thuật đặc sắc, bao gồm: một cặp chó đá, voi đá, ngựa đá, hai tấm bia đá, hai tượng người hầu và hai sập thờ chân quỳ. Toàn bộ hiện vật được tạo tác từ đá xanh vận chuyển từ Thanh Hóa, do các nghệ nhân đương thời chế tác công phu, tỉ mỉ, mang đậm dấu ấn nghệ thuật điêu khắc thời Hậu Lê.

Toàn cảnh khu lăng mộ Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận
Trong tổng thể các di vật còn lại, hai tấm bia đá được đánh giá là quý hiếm nhất và có giá trị tiêu biểu nhất về lịch sử - văn hóa. Đây là loại bia bốn mặt hiếm gặp, với nội dung chữ khắc còn nguyên vẹn và rất rõ nét.
Tấm bia thứ nhất, mang tên 敘事業碑 (Tự sự nghiệp bi), có kích thước 156×58×58 cm, gồm 52 dòng chữ Hán với toàn văn ước khoảng 1.650 chữ. Tấm bia thứ hai, mang tên 敘報德碑 (Tự báo đức bi), có kích thước 145×65×65 cm, gồm 52 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1.600 chữ. Cả hai tấm bia đều ghi năm dựng là Bính Thìn, thời Lê - Trịnh, tức niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), được xác nhận thêm qua bản tục lệ do các chức dịch địa phương sao lục.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, nguyên Phó Giám đốc Thư viện Hán Nôm thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từng nhận xét rằng dù đã tiếp xúc với hàng ngàn tấm bia trong suốt sự nghiệp nghiên cứu, ông vẫn khẳng định đây là hai tấm bia đặc biệt đẹp. Bia được tạo tác từ đá xanh nguyên khối, tương đối vuông vức, có tán bốn phía. Chóp bia hình búp sen, diềm bia trang trí hoa văn lá đề, rồng mây và hoa cúc dây tinh xảo. Bốn mặt bia được khắc kín chữ Hán, không có chữ húy. Mặc dù trải qua mưa nắng hàng trăm năm, các mặt bia vẫn nhẵn mịn; các chữ sắc nét, mềm mại, người xưa ví như "rồng bay phượng múa".

Bia đá tại lăng mộ Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận
Văn bia ghi chép tường tận về gia thế, công tích và đức nghiệp của vị quan Phó tri thị nội Thư tả hộ phiên, Thị cận thị nội giám tư lễ giám Tổng thái giám, tước Chuẩn nghĩa hầu, gia tặng Chuẩn Quận công, tự Đức Nhuận, hiệu Tĩnh Xuyền. Căn cứ những thông tin được khắc trên bia, các nhà nghiên cứu khẳng định người được thờ trong khu lăng mộ chính là Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận - một Tổng Thái giám trong phủ chúa Trịnh.
Theo nội dung văn bia, Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận, hiệu Tĩnh Xuyền, sinh giờ Tý, ngày mồng 5 tháng 4 năm Nhâm Tý, niên hiệu Dương Đức năm thứ nhất đời vua Lê Gia Tông (1672). Ông nguyên quán huyện Đường Hào, vốn họ Dương, sau đổi sang họ Nguyễn và đến định cư tại thôn Châu Xá, xã Đạo Khê - nay là thôn Đạo Khê, xã Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Tấm bia thứ nhất bên phải theo hướng lăng mộ
Về gia thế: ông nội là Dương Quý Công, tự Phúc Mãn; bà nội là Nguyễn Thị, hiệu Từ Thịnh. Ông ngoại là Nguyễn Quý Công, tự Phúc Trình; bà ngoại là Bùi Phi A, hiệu Từ Minh. Phụ thân là Dương Quý Công, tự Phúc Hải, được triều đình ban tặng hàm Quang Hiếu Điện Thiếu Khanh, Nho Trung Tử, sau gia tặng An Đường Xứ Hữu Tham Nghị - một người mẫn đạt, tính tình ôn hòa. Thân mẫu họ Nguyễn, hiệu Diệu Bích, là người đoan trang, trinh tĩnh, thường xuyên giúp đỡ kẻ mồ côi và người nghèo khổ, được dân làng kính trọng.
Năm Đinh Mão, khi mới mười sáu tuổi, Nguyễn Đức Nhuận được đưa vào phủ chúa Trịnh để tập sự. Từ đây, con đường hoạn lộ của ông không ngừng thăng tiến. Đến năm Quý Mùi, ông kế chức Thị Kim Vương Phủ, rồi lần lượt đảm nhận các chức vụ: Tả Trù Đội, Quản Lãnh Đội đóng chiến thuyền, Nội Sai Thủy Binh Phiên. Về sau, ông chuyển sang giữ chức Quản Nội Tả Long Bát Tu Kỵ Nhị Đội, kiêm Tri Vu Bộ Binh Phiên.

Tấm bia thứ hai bên trái theo hướng lăng mộ
Không chỉ là một chỉ huy quân sự tài năng, Nguyễn Đức Nhuận còn am hiểu sâu sắc việc triều chính. Nhờ đó, ông được thụ chức Tả Giám Thừa Hài, Tả Thiếu Giám, với toàn quyền quyết sách các công việc thuộc phần vị của mình. Ông nổi tiếng là người công tâm, nhân đức, đối đãi với thuộc cấp rất có tình - thường xuyên vỗ về, khen thưởng quân lính các đội Chương Đức, Quảng Uy và cấp bổng lộc kịp thời, khiến họ vô cùng cảm kích. Trong thời gian tại chức, ông nhiều lần phụng mệnh đi tuần thú, thám sát các đạo và lập được nhiều thành tích, được nhà Lê trọng dụng giữ chức Tả Hữu Cấm Đình. Năm Đinh Dậu, ông giữ chức Đồng Chi Giám Sự. Năm Mậu Tuất, ông kiêm chức Thái Giám, Quản Thượng Khảo, tham dự thi chính lại phiên của Thái Giám, kiêm chức Phó Hộ Phiên - ngày đêm túc trực nội đình, xử lý công việc Ty Lực Sĩ, quản lãnh sự vụ không một phút lơi lỏng. Ít lâu sau, ông nhậm chức Phó Thủ Hiệu, đi tuần thú các hạt Thanh Phong và châu Tiên An. Uy phong lẫm liệt của ông khiến kẻ địch khiếp sợ, không cần giao chiến cũng tự tan rã. Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận mất vào giờ Dậu, ngày mồng 9 tháng 10 năm Đinh Mùi (1727). Triều đình truy tặng ông các danh hiệu: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Thị Nội Giám, Tư Lễ Giám, Tổng Thái Giám, Chuẩn Quận Công. Vua Lê ban tên thụy là Minh Đức và cho tổ chức tang lễ theo nghi thức triều đình với quy mô hết sức long trọng.
Không chỉ tận tụy trong chốn quan trường, Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận còn là người hết lòng vì dân, vì nước. Công đức ông không giữ riêng cho bản thân mà ban phát rộng rãi: ông bỏ tiền xây cầu, dựng quán, mở đường, xây chùa để người dân các hạt được hưởng phúc đức. Suốt cuộc đời, ông luôn lấy sự cần kiệm, cung kính, khiêm nhường và lòng vị tha làm phương châm sống - tấm gương đó đã khiến người đương thời ghi lòng tạc dạ, viết thành bài từ khắc lên bia đá để truyền lại cho hậu thế.
Hai tấm bia đá tại lăng mộ Chuẩn Quận công Nguyễn Đức Nhuận là nguồn tư liệu Hán Nôm quý hiếm, có giá trị đặc biệt về nhiều phương diện: lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ học và nghệ thuật điêu khắc. Chúng không chỉ cung cấp thông tin xác thực về một nhân vật lịch sử trong phủ chúa Trịnh thời Hậu Lê, mà còn là minh chứng sống động cho tài năng chế tác đá của nghệ nhân thế kỷ XVIII.
Khu lăng mộ cùng với hệ thống văn bia là di sản văn hóa vật thể có giá trị cao, rất cần được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm bảo tồn, gìn giữ và phát huy - để thế hệ mai sau tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về một trang sử đặc sắc của vùng đất Hưng Yên.
Nguyễn Thị Huyên