Giữa miền quê thanh bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, chùa Keo (Thần Quang Tự), xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu mang trong mình những yếu tố điển hình của di sản văn hoá vật thể và phi vật thể.
Trải gần 400 năm tồn tại, chùa Keo không chỉ lưu giữ một quần thể kiến trúc gỗ mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII, mà còn là không gian thực hành tôn giáo, tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa được cộng đồng gìn giữ và tiếp nối qua nhiều thế hệ.
.jpg)
Chùa Keo (Thần Quang Tự) xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên
Sức hấp dẫn của chùa Keo được tạo nên bởi sự gắn kết giữa những giá trị hiện hữu trong kiến trúc, điêu khắc, di vật, cổ vật với tín ngưỡng, lễ hội, phong tục và ký ức cộng đồng. Ở đó, kiến trúc hòa cùng cảnh quan; nghệ thuật tạo hình gắn với không gian thờ tự; sự gắn kết giữa tôn giáo và tín ngưỡng được tiếp nối trong đời sống và lễ hội. Chính sự hội tụ ấy tạo nên chiều sâu văn hóa riêng, là nền tảng để chùa Keo trở thành một điểm đến văn hóa tâm linh giàu bản sắc của tỉnh Hưng Yên.
Dấu ấn lịch sử và không gian văn hóa tâm linh
Lịch sử hình thành chùa Keo gắn với Thiền sư Dương Không Lộ và cộng đồng cư dân làng Keo cổ ở vùng Giao Thuỷ xưa. Sau trận đại hồng thủy năm Tân Hợi 1611, cư dân làng Keo xưa phải rời quê cũ, một bộ phận chuyển đến vùng đất mới và xây dựng lại ngôi chùa. Trải qua 19 năm chuẩn bị, 28 tháng thi công, đến tháng 11 năm Nhâm Thân 1632 chùa Keo (Thần Quang Tự) được khánh thành. Vì thế, lịch sử chùa Keo không chỉ là lịch sử của một công trình tôn giáo mà còn là câu chuyện về sức bền văn hóa của một cộng đồng sau biến động thiên nhiên. Việc dựng chùa có sự đóng góp của nhiều tầng lớp nhân dân, phản ánh vai trò của cộng đồng ngay từ buổi đầu tạo dựng di tích.
Chùa thờ Phật, thờ Đức Thánh Dương Không Lộ và những người có công dựng chùa. Lối thờ Phật ở phía trước, thờ Thánh ở phía sau tạo nên nét đặc trưng “tiền Phật, hậu Thánh” trong không gian thờ tự. Lối thờ này phản ánh sự hòa quyện giữa Phật giáo với tín ngưỡng tôn kính một vị thiền sư được nhân dân suy tôn là Đức Thánh. Chính lớp văn hóa ấy làm cho chùa Keo vừa mang tính chất của một ngôi chùa Phật giáo, vừa là không gian tưởng niệm và truyền thống tri ân tiền nhân, tạo nên một không gian tâm linh trang nghiêm, gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của cộng đồng.
Tinh hoa kiến trúc và nghệ thuật thế kỷ XVII
Chùa Keo được ví như “một bảo tàng nghệ thuật của thế kỷ XVII”, mang trong mình tư duy về xây dựng kiến trúc nghệ thuật, thẩm mỹ tiêu biểu. Toàn bộ ngôi chùa được làm bằng gỗ lim, không sử dụng đinh mà chỉ dùng mộng gỗ ghép lại với nhau, kiến trúc tổng thể là “nội nhị công, ngoại nhất quốc”; “thượng gia hạ trì”; lối thờ “tiền Phật, hậu Thánh”.
Từ Tam quan, chùa Phật, tòa Giá Roi, đền Thánh đến Gác chuông và hai dãy hành lang Đông - Tây, các hạng mục được bố trí thành một chỉnh thể thống nhất, theo “trục thần đạo. Sự thay đổi về khoảng cách, cao độ nền, tỷ lệ công trình, độ cao và độ xòe của mái tạo nên nhịp điệu kiến trúc linh hoạt. Hồ nước, sân, vườn và cây xanh xen kẽ giữa các lớp công trình kiến trúc hòa nhập với cảnh quan. Hệ thống cột, vì kèo, mái và mảng chạm khắc vừa đảm nhiệm chức năng kiến trúc, vừa tạo nên giá trị thẩm mỹ; quần thể kiến trúc gỗ được tổ chức chặt chẽ, hài hòa.
Giá trị kiến trúc còn thể hiện qua nghệ thuật chạm khắc trên con sơn, đầu dư, ván bưng… với các đề tài rồng, nghê, phượng, hoa lá cách điệu. Các mảng chạm vừa tham gia vào kết cấu, vừa làm giàu vẻ đẹp tạo hình, phản ánh kỹ thuật thủ công và quan niệm thẩm mỹ của người Việt trong không gian tôn giáo - tín ngưỡng. Đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc gỗ chùa Keo là Gác chuông. Gác chuông ba tầng, mười hai mái theo kiểu chồng diêm cổ các; các tầng thu nhỏ dần khi vươn cao, đầu đao uốn cong mềm mại khiến toàn bộ công trình được ví như một bông sen lớn đang vươn nở giữa không gian cổ tự. Vẻ đẹp ấy không chỉ đến từ dáng còn từ sự cân bằng giữa kết cấu, tỷ lệ và khả năng xử lý vật liệu gỗ của người thợ xưa. Năm 2007, tháp chuông chùa Keo được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục: chùa Keo -Thần Quang tự - ngôi chùa có Tháp chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam.
.jpg)
Hoa văn trang trí trên hệ khung gỗ chùa Keo
Cùng với kiến trúc là hệ thống di vật, cổ vật phong phú gồm tượng thờ, bia đá, chuông đồng, khánh đá và đồ thờ tự. Khu chùa Phật còn lưu giữ các pho tượng cổ tiêu biểu như: Tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm Quá Hải, tượng Thích Ca sơ sinh…. Đặc biệt, Hương án Chùa Keo là hiện vật gốc, độc bản của thế kỷ XVII, tác phẩm điêu khắc gỗ tiêu biểu của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật, Hương án được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2021.
Kiến trúc, điêu khắc, hiện vật, cảnh quan và không gian thờ tự không tồn tại rời rạc mà liên kết thành một chỉnh thể. Chính sự hài hòa của toàn bộ quần thể đã làm nên giá trị vật thể đặc sắc của chùa Keo.
Giá trị văn hóa phi vật thể - mạch nguồn được trao truyền
Chùa Keo không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi thờ Đức Thánh Dương Không Lộ - vị Quốc sư thời nhà Lý có vị trí đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng của dân cư vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hai không gian thờ tự trong cùng quần thể tạo nên nét đặc sắc về tôn giáo, tín ngưỡng. Qua nhiều thế hệ, tín ngưỡng thờ Đức Thánh gắn với ký ức của cư dân làng Keo, với quá trình chuyển cư, dựng chùa và duy trì đời sống tinh thần trên vùng đất mới; Ngài không chỉ được tôn kính bởi đạo hạnh, tài năng, mà còn có công chữa bệnh cứu dân, giúp đời. Vì vậy, không gian thờ Thánh vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng, vừa kết nối lịch sử cộng đồng với hiện tại.
.jpg)
Nhịp sống tâm linh trong ngày hội chùa Keo
Sức sống ấy thể hiện rõ qua hai kỳ lễ hội truyền thống hằng năm “xuân, thu nhị kỳ”. Lễ hội mùa xuân diễn ra vào ngày mùng 4 tháng Giêng, mang ước vọng quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Lễ hội mùa thu được tổ chức vào trung tuần tháng 9 âm lịch mang đậm lễ hội lịch sử, gắn liền với cuộc đời Thiền sư Dương Không Lộ, bảo lưu nhiều lễ nghi, phong tục, trò chơi và diễn xướng dân gian được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Điểm đáng quý của lễ hội chùa Keo còn nằm ở vai trò chủ thể của cộng đồng. Các bậc cao niên gìn giữ nếp lễ, lực lượng thanh niên trai tráng, đến các em nhỏ đội sanh tiền mõ lộn, bơi trải dưới hồ … tham gia, tiếp nhận và thực hành nghi lễ, trò chơi, diễn xướng dân gian theo tập quán của địa phương. Nhờ sự tham gia liên tục ấy, những giá trị văn hóa không chỉ nằm trong tư liệu mà vẫn hiện diện trong đời sống. Lễ hội chùa Keo không đơn thuần là hoạt động tín ngưỡng mà còn là dịp để cộng đồng tri ân bậc tiền nhân, tôn vinh tinh thần từ bi, cứu độ và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chùa Keo vì thế là một “di sản sống”, nơi quá khứ tiếp tục được nhận biết qua tín ngưỡng, phong tục, lễ hội và ký ức cộng đồng.
Với những giá trị đặc biệt đó, năm 2017, Lễ hội Chùa Keo được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Lễ rước kiệu đức Thánh Dương Không Lộ trong lễ hội chùa Keo mùa thu
Từ giá trị di sản đến điểm sáng du lịch tâm linh
Chùa Keo hội tụ đồng thời những giá trị tiêu biểu của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Chính sự gắn kết ấy hình thành nguồn lực văn hóa đặc biệt để phát triển loại hình du lịch tâm linh theo hướng bền vững.
Những năm gần đây, du lịch tâm linh ngày càng phát triển. Các tour du lịch tâm linh không chỉ giúp cho du khách hành hương được quay về với cội nguồn tâm linh của mình mà còn được khám phá những thánh tích, được thực hành việc cầu nguyện và chiêm bái. Sức hấp dẫn của chùa Keo đối với du lịch tâm linh trước hết bắt nguồn từ chính những giá trị của di tích. Hàng năm, di tích Quốc gia đặc biệt chùa Keo đón tiếp hàng vạn lượt khách về lễ Phật, Thánh, tham quan, chiêm bái, học tập, nghiên cứu, tìm hiểu về di sản, tập trung đông vào các dịp đầu xuân và dịp lễ hội mùa thu.

Hoạt động trải nghiệm “Em yêu di sản” tại di tích Quốc gia đặc biệt chùa Keo
Điểm riêng của chùa Keo trong hành trình du lịch tâm linh vì thế không chỉ nằm ở sự linh thiêng của không gian thờ tự, mà còn ở khả năng đem đến cho du khách nhiều lớp trải nghiệm trong cùng một điểm đến. Từ việc lễ Phật, lễ Thánh, du khách có thể tiếp tục tìm hiểu câu chuyện về Thiền sư Dương Không Lộ, chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc thế kỷ XVII, tiếp cận các hiện vật có giá trị và cảm nhận đời sống lễ hội của cộng đồng. Sự gắn kết giữa nhu cầu tâm linh với trải nghiệm lịch sử, văn hóa và nghệ thuật tạo nên nét riêng, góp phần làm rõ vị thế của chùa Keo như một điểm đến văn hóa - tâm linh tiêu biểu của tỉnh Hưng Yên.
Chùa Keo được xếp hạng Di tích quốc gia năm 1962 và Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012; Lễ hội chùa Keo được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017; Hương án chùa Keo được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2021. Những dấu mốc ấy khẳng định các lớp giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật và lễ hội của di tích, đồng thời đặt ra trách nhiệm gìn giữ tương xứng với vị thế của di sản. Vì vậy, phát huy giá trị du lịch tâm linh tại chùa Keo cần được đặt trên nền tảng tôn trọng giá trị gốc, giữ gìn không gian văn hóa và giúp công chúng tiếp cận di sản một cách đúng đắn, trân trọng và có ý thức cùng gìn giữ những giá trị quý báu mà cha ông để lại.
Với lượng khách tham quan, chiêm bái lớn hằng năm, chùa Keo còn là một nguồn lực quan trọng trong phát triển du lịch của địa phương và của tỉnh Hưng Yên. Sức hút của di tích tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động dịch vụ, giới thiệu sản phẩm địa phương và trải nghiệm văn hóa, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh vùng đất, con người Hưng Yên tới du khách. Giá trị của một điểm đến di sản vì thế không chỉ thể hiện ở lượng khách tham quan mà còn ở khả năng kết nối các điểm đến, thúc đẩy dịch vụ và tạo thêm cơ hội để những giá trị văn hóa địa phương được giới thiệu rộng rãi hơn.
Đó cũng là hướng tiếp cận phù hợp với phát triển du lịch bền vững: phát huy hợp lý giá trị di sản để tạo sức hấp dẫn cho điểm đến nhưng không làm ảnh hưởng đến những giá trị vốn có, cảnh quan, không gian tôn giáo - tín ngưỡng và đời sống văn hóa của cộng đồng. Khi hoạt động tham quan, trải nghiệm được tổ chức trên cơ sở tôn trọng những giá trị tiêu biểu của Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo, sức hấp dẫn của điểm đến sẽ được nâng cao, đồng thời đóng góp thiết thực vào việc xây dựng hình ảnh du lịch văn hóa - tâm linh đặc sắc của tỉnh Hưng Yên.
Bảo vệ di sản bền vững để du lịch tâm linh được gìn giữ và lan tỏa
Suốt gần bốn thể kỷ qua, chùa Keo được nhiều thế hệ gìn giữ, tu bổ và bảo vệ. Cùng với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, các cấp chính quyền, cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn cùng sự chung tay của cộng đồng, nhiều hạng mục của di tích đã được bảo tồn, tu bổ qua các thời kỳ. Quá trình đó cho thấy sự kế tiếp về trách nhiệm gìn giữ di sản, trong đó vai trò quản lý của Nhà nước, nguồn lực xã hội và sự gắn bó của cộng đồng luôn có sự kết hợp, bổ trợ lẫn nhau.
Ngày nay, bảo vệ chùa Keo bền vững đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể. Nhà nước tạo hành lang pháp lý, cơ chế và nguồn lực; ngành văn hóa và cơ quan chuyên môn nghiên cứu, lập hồ sơ, hướng dẫn tu bổ; chính quyền địa phương phối hợp bảo vệ cảnh quan, an ninh, môi trường và tổ chức lễ hội. Ban Quản lý di tích tỉnh trực tiếp quản lý, theo dõi hiện trạng, bảo vệ và phát huy giá trị di tích; đồng thời thực hiện công tác tuyên truyền, thuyết minh, hướng dẫn và phục vụ nhân dân, du khách; thực hiện quy chế phối hợp với Tổ đình chùa Keo trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, góp phần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn với hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và nhu cầu tham quan, chiêm bái của nhân dân, du khách. Cộng đồng tiếp tục gìn giữ tín ngưỡng, thực hành và trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống gắn với di tích. Chính sự phối hợp ấy giúp việc bảo vệ di sản không chỉ dừng ở các đợt tu bổ lớn mà trở thành công việc thường xuyên, từ theo dõi hiện trạng kiến trúc, phòng chống mối mọt, cháy nổ, bảo vệ hiện vật, giữ gìn vệ sinh, cảnh quan đến hướng dẫn du khách ứng xử phù hợp trong không gian thờ tự.

Ban Khánh tiết chùa Keo tổ chức tập luyện chuẩn bị cho lễ rước đức Thánh
Bên cạnh đó, hoạt động thuyết minh, hướng dẫn tại điểm là cầu nối giúp du khách hiểu rõ hơn những giá trị đặc biệt của di tích Quốc gia đặc biệt chùa Keo. Từ sự hiểu biết đến hành động, việc trân trọng di sản được thể hiện bằng những ứng xử cụ thể như tuân thủ nội quy, giữ gìn cảnh quan và sự trang nghiêm của không gian thờ tự. Qua đó, hoạt động thuyết minh không chỉ làm phong phú trải nghiệm tham quan mà còn góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của mỗi người trong việc gìn giữ, bảo vệ di sản. Trong điều kiện hiện nay, việc ứng dụng công nghệ và đa dạng hóa phương thức giới thiệu cũng mở ra khả năng giúp công chúng tiếp cận chùa Keo thuận lợi hơn; tuy nhiên, công nghệ cần đóng vai trò hỗ trợ để du khách hiểu di sản tốt hơn, không thay thế trải nghiệm trực tiếp trước công trình, hiện vật và không gian văn hóa của di tích.
Việc chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và cơ quan quản lý di tích, sự phối hợp của Tổ đình chùa Keo giúp thống nhất nguồn lực, nâng cao hiệu quả bảo vệ nguyên trạng và phát huy giá trị di sản, giá trị du lịch tâm linh gắn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Giá trị đặc biệt của chùa Keo nằm ở sự hiện diện đồng thời và gắn bó mật thiết giữa phần “hình” của di sản vật thể với phần “hồn” của di sản phi vật thể. Chính sự hội tụ ấy làm nên một Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo vừa cổ kính, linh thiêng, vừa sống động trong đời sống cộng đồng; nơi du khách có thể tìm về với không gian tâm linh, đồng thời tiếp cận những giá trị tiêu biểu của lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa truyền thống. Gìn giữ nguyên vẹn những giá trị đó, trao truyền đúng những câu chuyện của di sản và phát huy trên cơ sở tôn trọng tính chân xác chính là nền tảng để chùa Keo tiếp tục khẳng định vị thế của một điểm sáng du lịch văn hóa tâm linh, một miền di sản đặc sắc của Hưng Yên. Qua đó, những giá trị được hình thành và bồi đắp qua nhiều thế kỷ không chỉ được bảo vệ mà còn tiếp tục được lan tỏa và trao truyền cho các thế hệ mai sau.
Phạm Thị Phương