Dẫn luận
Mảnh đất Hưng Yên nổi danh với tên gọi Phố Hiến - thương cảng phồn hoa đô hội, trung tâm mậu dịch quốc tế trên hành trình thương mại Đông - Tây vào thế kỷ XVII - XVIII.
Hưng Yên không chỉ mạnh về kinh tế mà còn là một “vùng đất tâm linh” với hệ thống các di sản văn hoá vô cùng phong phú. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn bảo lưu được 3.716 di tích các loại (gồm: 06 di tích quốc gia đặc biệt; 284 di tích quốc gia; 884 di tích cấp tỉnh; 2.244 di tích trong danh mục kiểm kê) và 10 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia, cùng hàng nghìn tài liệu, hiện vật, cổ vật có giá trị. Trong kho tàng văn hóa phi vật thể Hưng Yên hiện có nhiều lễ hội truyền thống có quy mô lớn, đặc sắc và đã có 29 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tiêu biểu trong số những loại hình di sản văn hoá còn lại của Hưng Yên đến ngày nay phải kể đến loại hình di sản tư liệu - viên gạch nối giữa lịch sử và hiện tại.
Di sản tư liệu là những tài liệu gốc có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh, số hóa, trên các vật mang tin như giấy, phim, đĩa, hoặc dạng số, có ảnh hưởng rộng lớn và được lưu truyền qua các thế hệ. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, còn lưu giữ được nhiều di sản tư liệu có giá trị đặc biệt về nội dung và phong phú về loại hình được thể hiện trên các chất liệu: đá, gỗ, giấy,...
1. Thực trạng công tác kiểm kê và quản lý di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong thời gian qua
1.1. Những kết quả đạt được
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đặc biệt là loại hình di sản tư liệu, trong thời gian qua bám sát theo quy định của Luật Di sản văn hoá năm 2024, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên đã triển khai tổng kiểm kê di sản tư liệu trên địa bàn toàn tỉnh nhằm nhận diện, xác định số lượng hiện trạng các di sản tư liệu trên địa bàn toàn tỉnh, phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, đề xuất phương án bảo vệ và phát huy giá trị của di sản. Trên thực tế, công tác kiểm kê di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên bước đầu đã thu thập được một khối lượng lớn những thông tin về: tên gọi, niên đại, hình thức, giá trị, kế hoạch bảo vệ, tình trạng của các di sản tư liệu. Đây là những tư liệu, thông tin vô cùng quý giá, bổ sung vào danh mục kiểm kê di sản tư liệu tỉnh Hưng Yên.
Trên cơ sở, nội dung kế hoạch đề ra, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch, mẫu phiếu kiểm kê, thu thập thông tin liên quan đến việc kiểm kê di sản tư liệu tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó, chủ trì và phối hợp với các địa phương trên địa bàn tỉnh tuyên truyền, phổ biến mục đích, ý nghĩa của công tác kiểm kê di sản tư liệu. Cán bộ Ban QLDT tỉnh trực tiếp tham gia khảo sát và thu thập thông tin, ảnh chụp hiện trạng di sản tư liệu để phục vụ cho nội dung nhập phiếu kiểm kê. Tổng hợp, xử lý số liệu điều tra bằng các bảng, biểu thống kê trên cơ sở kết quả kiểm kê bằng mẫu phiếu. Kết quả của cuộc kiểm kê đã góp phần nhận diện, xác định giá trị, số lượng, hiện trạng di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh, phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, đề xuất phương án bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu. Đồng thời phân loại, lập danh mục di sản tư liệu để lựa chọn các di sản tư liệu có giá trị lập Hồ sơ khoa học đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét ghi danh vào danh mục di sản tư liệu quốc gia.
Tính đến hết tháng 12 năm 2024, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã hoàn thành công tác kiểm kê di sản tư liệu tại 75 xã, phường, thị trấn thuộc 05 huyện/thành phố của tỉnh Hưng Yên cũ. Kết quả thu về: 3.528 phiếu kiểm kê (tương ứng với 3.528 di sản tư liệu), kèm sổ nhật ký, ảnh chụp theo từng xã; các tài liệu sưu tầm được tại địa phương. Di sản tư liệu được kiểm kê chủ yếu thuộc loại hình tài liệu văn bản chữ viết trên các vật mang tin thuộc nhiều loại hình và chất liệu khác nhau: thần tích, sắc phong, bia đá, chuông, khánh, câu đối, đại tự, cuốn thư, bài vị, bức châm, bản khắc thẻ, mộc bản,....
Hiện nay, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch chỉ đạo Ban quản lý di tích tỉnh đang tiếp tục tiến hành thực hiện kiểm kê di sản tư liệu của 20 xã, phường trên địa bàn tỉnh Hưng Yên theo đúng kế hoạch đề ra.

Đoàn chuyên gia UNESCO khảo sát thực tế
Bước đầu thực hiện kiểm kê di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh cho thấy, di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phân bố không đồng đều cả về không gian (tập trung nhiều ở một số phường xã thuộc địa phận thành phố Hưng Yên, huyện Yên Mỹ cũ, rải rác hơn ở các địa phương khác). Các di sản tư liệu phần lớn niên đại vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn và được bảo quản khá tốt, có niên đại cụ thể, đề rõ tên tác giả, người biên soạn, người cung tiến, tạo tác, cho thấy văn bản có độ tin cậy cao.
Trong quá trình khảo sát, kiểm kê, đánh giá và phân loại di sản tư liệu tại các địa phương của tỉnh Hưng Yên đã xác định được một số nhóm di sản tư liệu có giá trị đặc biệt thuộc địa phận khu vực Phố Hiến. Sau khi nghiên cứu, đánh giá cho thấy, đây đều là những di sản tư liệu có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và khoa học vô cùng to lớn, phản ảnh về gương mặt của Phố Hiến dưới nhiều phương diện, góc độ khác nhau từ vị trí địa lý, kinh tế, chính trị, tổ chức xã hội đến đời sống tinh thần, sinh hoạt cộng đồng của cư dân. Đồng thời cho biết sự hình thành, hưng thịnh, phát triển của Phố Hiến qua các giai đoạn lịch sử. Nguồn di sản tư liệu hiện còn ở đây được lưu giữ dưới nhiều dạng: thần tích, sắc phong, châm thư, câu đối, đại tự, bia đá,... thể hiện trên các vật mang tin vô cùng đa dạng, phong phú như: giấy, gỗ, đá,... là di sản đặc biệt của vùng văn hóa Phố Hiến. Tiêu biểu trong số đó là Văn bia Phố Hiến. Qua khảo cứu, tổ kiểm kê đã thống kê được hơn 100 tấm bia, trong đó có 41 văn bia có giá trị đặc biệt tiêu biểu. Văn bia có niên đại sớm nhất là bia chùa Hiến được khắc vào năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), bia có niên đại muộn nhất là tấm bia Đông Đô Quảng Hội dựng vào năm Bảo Đại thứ 20 (1944). Văn bia Phố Hiến có nội dung khá phong phú, như: ca ngợi hiền tài, công đức; ghi lại quá trình trùng tu đình, đền, chùa, miếu, từ đường; ca ngợi cảnh đẹp, ca ngợi Phật pháp hoặc quyền phép, sự linh nghiệm của thần linh hay ghi lại một giao ước cụ thể nào đó. Trong đó, có những văn bia rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa như hai tấm bia chùa Hiến (Thiên Ứng tự) khắc năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) và năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709); văn bia chùa Chuông (Kim Chung tự) khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1711) và văn bia ở miếu thờ Lê Đình Kiên (nay miếu này không còn, chỉ còn bia). Thông qua việc ghi tên những người công đức xây dựng, tu bổ đền chùa, những văn bia này cho thấy bóng dáng phồn thịnh của Phố Hiến xưa với 25 phường, hoạt động kinh tế thương mại hết sức sôi động, nhiều mặt hàng được đem trao đổi, mua bán, sản xuất, mang tính chuyên môn hóa với nhiều ngành nghề thủ công có nguồn gốc từ các vùng miền; mật độ dân đông, thành phần đa dạng, phong phú, đến từ nhiều nơi trong nước và nước ngoài, phản ánh đời sống sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán,...

Đoàn chuyên gia UNESCO chụp ảnh lưu niệm với Lãnh đạo Sỏ VHTTDL, BQL di tích tỉnh
Qua công tác kiểm kê di sản tư liệu đến nay, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hưng Yên đã hoàn thành xong việc xây dựng Hồ sơ khoa học đối với di sản tư liệu “Hệ thống văn bia Phố Hiến, Hưng Yên” trình UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Bên cạnh đó, nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản tư liệu, đồng thời nâng cao kiến thức, nhận diện rõ di sản, trong các năm 2023 và 2024, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo Ban quản lý di tích tỉnh tổ chức Hội nghị tập huấn: “Nâng cao kỹ năng nhận diện, xây dựng hồ sơ di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” cho đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý và kiểm kê di sản tư liệu và đội ngũ quản lý di sản tại các địa phương. Sau buổi tập huấn đã tổ chức chương trình nghiên cứu, khảo sát và học tập kinh nghiệm thực tế tại các địa phương đã có di sản tư liệu được ghi danh.
1.2. Những khó khăn, hạn chế
Hưng Yên là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kiểm kê di sản tư liệu trên địa bàn toàn tỉnh. Trong điều kiện, lần đầu tiên Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức triển khai kiểm kê đối với một loại hình di sản văn hóa đặc thù, tồn tại trên cả 2 dạng thức: vật thể và phi vật thể, nên không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Khó khăn lớn nhất là việc nhận diện di sản tư liệu giữa kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đồ sộ.
- Trong quá trình khảo sát điều tra, đối với loại hình tài liệu văn bản là thông tin dưới dạng chữ viết thể hiện trên các vật mang tin được viết/khắc chủ yếu bằng chữ Hán - Nôm. Đây chính là một khó khăn, trở ngại lớn cho những người làm công tác bảo tồn di sản cũng như công chúng khi tiếp cận với di sản. Nếu không biết, không giỏi chữ Hán - Nôm thì cán bộ chuyên môn cũng như độc giả không thể đọc trực tiếp để hiểu nội dung tài liệu gốc, từ đó không thể
bóc tách, xác định được chính xác các lớp giá trị bên trong nội dung tài liệu đã phản ánh để đưa vào phiếu kiểm kê. Chính vì vậy, cán bộ kiểm kê phải thu thập toàn bộ dữ liệu, sau đó sẽ chuyển qua một bộ phận khác xử lý. Điều này đã tiêu tốn không ít thời gian, công sức,...
- Hệ thống di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hầu hết được bảo quản, lưu giữ cẩn thận trong các di tích, họ tộc, tư gia dòng họ, là nguồn tư liệu quý giá phục vụ công tác nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử, tra cứu dữ liệu. Tuy nhiên, hiện những di sản tư liệu quý giá này gần như chưa được phát huy tốt giá trị của mình. Có những di sản mới chỉ tiếp cận ở góc độ tín ngưỡng, đến chiêm bái mà chưa có đủ thông tin về các giá trị lịch sử, giao thoa văn hóa, giá trị nghệ thuật của di sản. Ở những địa điểm tổ kiểm kê đến khảo sát, người dân còn chưa được hướng dẫn đầy đủ cách bảo quản tư liệu quý của mình như thế nào để có thể gìn giữ được lâu dài. Với các sắc phong trên giấy gió, gia phả hàng trăm năm tuổi,… địa phương chỉ biết cất trong hộp quý, khóa lại, để nơi kín đáo như: trên xà nhà, trong tủ kín trong cung cấm,… thể hiện sự trân quý nhưng không lường được nguy cơ mất tư liệu nếu xảy ra cháy nổ, lũ lụt, mối xông,… Mặt khác, do hậu quả của các cuộc chiến tranh trước đây, cộng với khí hậu khắc nghiệt nên các di sản tài liệu một phần bị mất mát, huỷ hoại hoặc bị phân tán, lưu giữ rải rác, tản mát ở nhiều nơi khác nhau.
- Tại một số di tích, di sản tư liệu do được tạo tác lâu đời, chịu sự tác động của con người, thiên tai, khí hậu hiện có nguy cơ mai một, rách nát, sứt mẻ, chữ viết mòn và mờ. Có những di sản tư liệu như bia đá được để ngoài trời, không có mái che,…
- Sự nhận thức về tầm quan trọng của công tác nhận diện và xác định giá trị di sản tư liệu chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến công tác bảo vệ cũng chưa được bài bản, thống nhất và trên quy trình chung. Cộng đồng còn thờ ơ, chưa thực sự chung tay với các nhà quản lý nhằm đi tới một tiếng nói chung về việc bảo vệvà phát huy giá trị di sản.
- Kinh phí dành cho công tác bảo quản, phát huy giá trị di sản tư liệu còn hạn chế so với tiềm năng và nhu cầu thực tế của di sản. Việc tuyên truyền, giáo dục thông qua nội dung di sản tư liệu chứa đựng còn rời rạc, manh mún.
2. Đề xuất giải pháp
Để làm tốt vai trò và trách nhiệm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản tư liệu, thiết nghĩ trong thời gia tới cần có sự chung tay của toàn xã hội, trong đó tập trung vào những giải pháp trọng tâm sau:
- Thứ nhất: Các ngành, các cấp cần quan tâm hơn nữa việc chỉ đạo, lãnh đạo xây dựng và phát triển sự nghiệp Văn hoá, Thể thao và Du lịch, trong đó chú trọng công tác bảo vệ và phát huy giá trị các di sản tư liệu. Sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các địa phương trên cả nước, triển khai thực hiện tốt Luật Di sản văn hoá năm 2024, các quy định về bảo vệ di sản tư liệu.
- Thứ hai: Đối với loại hình di sản này, cần áp dụng cả hai hình thức: bảo quản hiện vật gốc một cách bài bản, phù hợp chất liệu tạo tác để di sản được "sống" lâu dài nhất có thể với chúng ta và số hóa. Việc số hóa di sản tư liệu dưới dạng hình ảnh 3D hay 4D nhằm bảo quản bản gốc, lưu trữ dữ liệu và phục vụ công tác nghiên cứu, nhất là với những người không có điều kiện đến nơi lưu trữ di sản gốc. Đây là việc làm cụ thể, thiết thực để kịp thời lưu giữ, bảo quản, phát huy các giá trị di sản thành hệ thống, trong đó có các tư liệu quý có giá trị lịch sử, văn hóa. Song, sau khi số hóa, các di sản tư liệu không chỉ được lưu giữ hình ảnh, thông tin trong các máy tính, hay “tủ khóa then cài” mà phải được trưng bày, giới thiệu nhiều hơn tới người dân và du khách bởi khi di sản tư liệu “sống” thì mới có thể bảo tồn, phát huy giá trị vốn có của nó.
- Thứ ba: Đầu tư kinh phí, trang thiết bị cơ sở vật chất cho việc nhận diện, kiểm kê, nghiên cứu, bảo vệ và phát huy giá trị di sản, cụ thể: xây dựng kế hoạch kinh phí thường xuyên cho việc kiểm kê, nghiên cứu đối với những di sản chưa được vinh danh và chưa rõ giá trị; ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới trong việc số hóa, tư liệu hóa, xuất bản, tuyên truyền về giá trị của di sản trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trang mạng xã hội zalo, facebook, youtube, twitter,… Tận dụng nguồn kinh phí được cấp, thu chi hiệu quả các nguồn thu từ dịch vụ và có cơ chế quản lý, thu hút nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế cho các hoạt động liên quan đến di sản tư liệu.
- Thứ tư: Tiếp tục thực hiện công tác kiểm kê di sản tư liệu trên địa bàn toàn tỉnh. Từ đó, nhận diện và lựa chọn những di sản tư liệu có giá trị tiêu biểu lập Hồ sơ di sản tư liệu ghi danh vào danh mục Di sản tư liệu Quốc gia. Đồng thời, đào tạo nguồn nhân làm công tác kiểm kê, am hiểu về Hán - Nôm.
3. Kết luận
Hoạt động kiểm kê di sản tư liệu là đúng đắn và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thế hội nhập và phát triển, giao lưu đang diễn ra từng ngày trong nước, trong khu vực và trên thế giới. Trên thực tế, công tác kiểm kê di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh Hưng Yên bước đầu đã thu thập được một khối lượng lớn những thông tin về: tên gọi, niên đại, hình thức, giá trị, kế hoạch bảo vệ, tình trạng của các di sản tư liệu. Đây là những tư liệu, thông tin vô cùng quý giá, bổ sung vào danh mục kiểm kê di sản tư liệu tỉnh Hưng Yên. Kết quả của cuộc tổng kiểm kê đã góp phần nhận diện, xác định giá trị, số lượng, hiện trạng di sản tư liệu trên địa bàn tỉnh, phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, đề xuất phương án bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu. Đồng thời phân loại, lập danh mục di sản tư liệu để lựa chọn các di sản tư liệu có giá trị lập Hồ sơ khoa học đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét ghi danh vào Danh mục di sản tư liệu quốc gia./.
Th.S. NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
Giám đốc Ban Quản lý di tích tỉnh Hưng Yên