Chùa Hội (Hội Linh Tự), thuộc thôn Đào Xá, xã A Sào, tỉnh Hưng Yên, là một di tích quan trọng gắn với lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Không chỉ nổi tiếng bởi dấu tích liên quan đến Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, chùa còn đặc biệt được giới nghiên cứu quan tâm bởi đang lưu giữ bộ mười pho tượng đá thời Mạc - một trong những bộ tượng đá nguyên bản, quy mô và độc đáo nhất nước ta. Theo các thư tịch cổ, chùa Hội được xây dựng từ thời Trần và là trung tâm phật giáo lớn trong vùng. Đến thời Mạc, chùa Hội tiếp tục được quan tâm tu sửa và xây dựng lại, quy mô thêm khang trang. Nhờ đó chùa vẫn giữ vững vai trò là nơi gửi gắm niềm tin tâm linh và là điểm tựa văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã suốt nhiều thế kỉ. Tuy nhiên vào năm 1970, do chủ trương mở rộng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, chùa Hội buộc phải hạ giải để nhường đất đào mương. Không muốn mất đi nơi thờ tự linh thiêng, nhân dân đã góp công khởi dựng một ngôi chùa nhỏ gần khu vực đình Đào Xá để đặt tượng phật và tiếp tục thờ tự cho đến ngày nay. Trong bối cảnh phần lớn tượng thờ tại các chùa miền Bắc được làm bằng gỗ, sự xuất hiện của mười pho tượng đá tại chùa Hội Linh trở thành một trường hợp đặc biệt hiếm hoi. Không chỉ đa dạng về loại hình (tượng Tam Thế, Quan Âm, tượng vua và tượng quan, tượng Sư tổ), mà mỗi tác phẩm đều hội tụ kỹ thuật tạo tác tinh tế, hài hòa, phản ánh phong cách mỹ thuật thế kỷ XVI - thời kỳ mỹ thuật cung đình nhà Mạc đạt đến đỉnh cao. Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong công trình nghiên cứu văn hóa dân gian vùng Thái Bình - Hưng Yên, đã từng nhận xét: “Bộ tượng đá tại chùa Hội Linh là một trong những quần thể tượng đá đẹp bậc nhất tôi từng thấy, không chỉ tinh xảo mà còn mang đậm phong cách cung đình thời Mạc”. Cùng quan điểm, PGS.TS Đinh Khắc Thuân khẳng định pho tượng được cho là Mạc Đăng Dung mang đặc trưng tạo hình điển hình của vương triều Mạc, đặc biệt là chi tiết chim nổi trên mũ bình thiên. Nghiên cứu của Viện Mỹ
Tám pho tượng đá tại tòa Tam Bảo chùa Hội
Tượng Tam Thế gồm ba pho, tượng trưng cho quá khứ - hiện tại -tương lai. Cả ba tượng đều được tạo tác từ đá xanh nguyên khối, thân hình nở nang, đường nét mềm mại, bố cục vững vàng. Trên đài sen, các cánh sen lớn được chạm nổi mạnh mẽ, dứt khoát - đặc điểm rất tiêu biểu của nghệ thuật tạc đá thế kỷ XVI. Tư thế thiền định, ánh mắt khép hờ cùng nụ cười nhân hậu mang đậm vẻ đẹp từ bi của mỹ thuật Phật giáo thời Mạc.
Tượng Quan Âm Bồ Tát tại chùa Hội Linh có tạo hình ấn tượng với sáu cánh tay biểu thị năng lực cứu độ chúng sinh. Khuôn mặt đầy đặn, dái tai dài, nét chạm y phục mềm mại và những chi tiết hoa văn tinh tế thể hiện sự hòa quyện giữa nghệ thuật dân gian và mỹ thuật cung đình. Đài sen lớn nâng toàn bộ pho tượng tạo cảm giác thanh thoát mà trang nghiêm.
Nhóm tượng vua và quan thời Mạc là những tác phẩm đặc biệt quý hiếm. Pho tượng được cho là Thái Tổ Mạc Đăng Dung mang nhiều đặc điểm tạo hình tương đồng với tượng tại chùa Trà Phương (Hải Phòng). Đầu đội mũ bình thiên, chính giữa khắc hình chim nổi - chi tiết điển hình trong trang phục của vương triều Mạc. Long bào chạm rồng, cổ áo trang trí hoa văn lá sồi ôm lấy nửa bông cúc mãn khai - những chi tiết tinh xảo khiến pho tượng trở thành tư liệu quý về trang phục cung đình thế kỷ XVI.
Tượng Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) và ba pho tượng quan chầu càng góp phần hoàn chỉnh quần thể tượng đá hiếm có. Các pho tượng này đều có chung phong cách mềm mại, mắt khép hờ, thần thái hiền từ, tạo cảm giác tôn nghiêm nhưng gần gũi. Đặc biệt, hình tượng các vị vua được thể hiện theo phong cách Phật hóa - một đặc trưng rất riêng của mỹ thuật thời Mạc.
Tượng Sư tổ chùa Hội Linh là pho tượng nhỏ nhất nhưng lại toát lên vẻ đẹp thanh thoát và tĩnh tại. Với y phục giản dị, gương mặt phúc hậu và tư thế thiền định an hòa, pho tượng phản ánh triết lý thiền học thấm đẫm trong đời sống tâm linh Việt Nam thời Mạc.
.jpg)
.jpg)
Tượng Mạc Đăng Dung và Sư tổ
Trải qua hàng trăm năm, dù đối mặt với chiến tranh, thiên tai và biến đổi thời cuộc, mười pho tượng đá vẫn bảo tồn được hình khối, các lớp chạm khắc và thần thái nhân vật một cách gần như nguyên vẹn. Đây là một điều vô cùng hiếm hoi, bởi tượng đá dù bền vững vẫn dễ chịu tác động từ môi trường và con người.
Nhìn từ góc độ lịch sử - mỹ thuật, bộ tượng đá tại chùa Hội Linh vừa là minh chứng quan trọng giúp nhận diện phong cách điêu khắc thời Mạc, vừa là tư liệu quý để nghiên cứu về trang phục, tín ngưỡng, mỹ thuật Phật giáo và văn hóa cung đình thế kỷ XVI. Đặc biệt, tính nguyên bản của các pho tượng - còn giữ được hình khối, diện mạo, kỹ thuật chạm trổ - khiến di sản càng trở nên giá trị trong bối cảnh nhiều di tích hiện nay đã qua trùng tu, chỉnh sửa làm mất đi yếu tố gốc. Mỗi pho tượng là một lát cắt lịch sử sống động, góp phần lấp đầy những khoảng trống tư liệu của giai đoạn mà hiện vật còn khá ít ỏi.
Về mặt văn hóa - xã hội, bộ tượng đá không chỉ là di sản của riêng chùa Hội Linh hay người dân Đào Xá, mà còn là tài sản quý của tỉnh Hưng Yên và rộng hơn là của nền mỹ thuật dân tộc. Việc gìn giữ, bảo tồn và giới thiệu bộ tượng đến công chúng có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng tự hào địa phương, đồng thời tạo tiền đề để phát triển du lịch văn hóa tâm linh.
Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều di tích đang xuống cấp hoặc bị biến đổi trong quá trình trùng tu, việc chùa Hội Linh vẫn gìn giữ được bộ tượng đá nguyên bản là một may mắn và cũng là trách nhiệm lớn. Chính quyền địa phương, ngành văn hóa và cộng đồng cần tiếp tục phối hợp trong việc bảo vệ, số hóa tư liệu, nghiên cứu khoa học và quảng bá di sản. Đó không chỉ là gìn giữ vật thể, mà còn là bảo tồn một phần ký ức văn hóa của dân tộc.
Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, công tác bảo tồn bộ tượng đá tại chùa Hội Linh cần được đặt ở mức độ ưu tiên cao. PGS.TS Nguyễn Văn Huy cho rằng: “Với những tượng đá quý như ở Hội Linh, việc bảo tồn phải dựa trên nguyên tắc tối thiểu can thiệp, giữ tối đa yếu tố nguyên gốc và bảo đảm điều kiện môi trường ổn định để tượng không tiếp tục bị phong hóa”
Hiện nay, bộ tượng đang được bảo quản trong tòa Tam Bảo chùa Hội. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả bảo tồn lâu dài, cần có các biện pháp như hệ thống điều hòa độ ẩm, quét số hóa 3D để lưu trữ tư liệu, xây dựng hồ sơ khoa học chi tiết cho từng pho tượng. Việc số hóa cũng là hướng đi tất yếu giúp quảng bá hình ảnh di sản rộng rãi hơn đến cộng đồng trong và ngoài tỉnh.
Mười pho tượng đá thời Mạc tại chùa Hội Linh là di sản độc bản, hội tụ giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật đặc sắc - xứng đáng được xem là báu vật giữa lòng Hưng Yên. Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân Đào Xá và tỉnh Hưng Yên, mà còn góp phần quan trọng làm phong phú kho tàng mỹ thuật cổ Việt Nam và là sự khẳng định của mỹ thuật Việt Nam trên bản đồ văn hóa khu vực trong hiện tại, tương lai. Việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị bộ tượng sẽ giúp di sản sống mãi với thời gian, đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển du lịch văn hóa - tâm linh của địa phương.
Thùy Liên