Đền Bà Chúa Mụa xây dựng trên mảnh đất cao ráo, thoáng mát nằm kề sát làng Cộng Vũ, xã Vũ Xá. Mặt tiền đền quay hướng Tây Nam, nhìn ra sông Cửu An. Theo truyền ngôn của người dân địa phương thì đền được xây dựng trên hai cồn đất gọi là cồn Con Voi và cồn Nghiên Bút.
Đền thờ bà Chúa Mụa Trần Thị Ngọc Am (Tên hiệu là Trần Thị Cư, sinh năm 1580 và mất năm 1648), là thứ phi của chúa Trịnh Tráng quê tại làng Mụa. Bà là một phụ nữ có sắc đẹp, tài đức, là bậc kỳ nữ trong thiên hạ. Bà đã giúp chúa Trịnh trông nom việc học tập trong phủ của các cung tần, mỹ nữ, củng cố mối đoàn kết giữa phủ chúa với triều đình nhà Lê. Bà sinh được một người con gái, đặt tên là Trần Thị Minh nhưng không bao lâu sau Thụy Minh công chúa qua đời. Vì quá đau buồn, bà xin về quê nhà. Bà bỏ tiền ra giúp dân khai khẩn ruộng đất, khai sông dẫn thủy nhập điền, cứu đói dân nghèo. Tự bà xin lập và tu sửa các chùa chiền quanh vùng và phổ biến lễ cúng phật. Khi bà mất, nhân dân đã tôn bà làm thần và lập đền thờ ngay tại quê hương.
Đền được xây dựng thời Lê, trải qua thời gian và chiến tranh, đền bị hư hại, nhân dân địa phương đã nhiều lần tu sửa trong đó có 04 lần trùng tu vào thời Nguyễn. Hiện nay, đền có kết cấu kiến trúc chữ Nhị gồm 03 gian Đại bái và 03 gian Hậu cung. Các bộ vì chạm khắc kiểu con chồng đấu kê đơn giản. Đền bà chúa Mụa còn là di tích có giá trị đặc biệt về nghệ thuật chạm khắc đá thời Lê như: tấm bia niên hiệu Đức Long (1634) ghi tiểu sử bà Chúa Mụa, pho tượng bà Chúa Mụa được tạc năm 1634, tấm bia ghi nhận công lao của bà với dân làng trong việc xây dựng đình, đền, chùa, miếu (năm 1650), nhang án đá cùng hệ thống bát hương, tượng phỗng tạc bằng đá xanh,... Ngoài ra, ngày 8/6/1963 trong khi làm thuỷ lợi sông cầu Ngàng, dân công đã đào được 04 đĩa vàng, 01 đĩa bạc của Chúa Trịnh Tráng ban thuởng cho con gái, ở đáy một đĩa có dòng chữ: “Thuỵ Minh công chúa kim phụ lai bát tinh công chúa” (chén bạc của cha ban cho con, Thuỵ Minh công chúa).
Từ những giá trị trên, đền Bà Chúa Mụa được Bộ Văn hóa- Thông tin xếp hạng là di tích “Nghệ thuật” cấp Quốc gia theo Quyết định số 2233-QĐ/BT ngày 26/6/1995.