Lễ hội đình Quan Xuyên (còn có tên gọi là Lễ hội đình làng Quan Xuyên, Lễ hội vật lầu đình Quan Xuyên) là một trong những lễ hội trọng điểm của tỉnh Hưng Yên, hội tụ đầy đủ những nét văn hóa đặc sắc của vùng Đồng bằng châu thổ ven sông Hồng. Trong lễ hội còn bảo lưu những nghi thức như tế lễ, rước nước,… đến các trò chơi dân đặc sắc.
Đình Quan Xuyên
Lễ hội đình Quan Xuyên có từ lâu đời, gắn liền với tín ngưỡng thờ Ngũ vị đẳng thần là: Đức Thánh Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân, thành hoàng Vũ Quang Chiếu và Phạm Công Nghi của cộng đồng cư dân Quan Xuyên, xã Thành Công.
Qua nghiên cứu hệ thống thần phả, sắc phong, văn tế, bia ký ở đình Quan Xuyên, chúng tôi thấy: Trong các vị thần được đề cập trên đây thì Đức Thánh Chử cùng Nhị vị phu nhân được coi là những nhân vật truyền thuyết được lịch sử hóa dưới thời Hùng Vương. Các ngài có công khai phá đất đai, mở mang nghề nghiệp, chữa bệnh cứu người, được suy tôn là một trong “tứ bất tử” của hệ thống thần linh Việt.
Còn hai vị thần Phạm Công Nghi và Vũ Quang Chiếu là những nhân vật có thật sống dưới thời Hậu Lê (đời vua Lê Chiêu Tông). Trong đó, Thành hoàng Vũ Quang Chiếu là người làng Quan Xuyên, làm quan đến chức Tham tri Hình bộ và được coi là người sáng tạo ra trò chơi vật lầu ở Quan Xuyên. Phạm Công Nghi quê gốc ở Vĩnh Niệm, Hải Phòng là bạn thân và tướng đồng triều với Vũ Quang Chiếu. Các ngài nhiều công lao với đất nước, với dân làng nên được nhân dân thành kính tôn thờ.
Xưa kia, lễ hội truyền thống đình làng Quan Xuyên được diễn ra từ ngày mồng 9 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Nhưng từ năm 1938, cụ Cao Văn Linh (làm thông phán ở Hưng Yên) thấy nhân dân tổ chức lễ hội hằng năm rất vất vả và tốn kém nên đã quy định lịch tổ chức lễ hội vào các năm “Thìn, Tuất, Sửu, Mùi” (tức ba năm một lần). Lễ hội được tổ chức đến năm 1946 (năm Bính Tuất) thì bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác. Đến năm 1991 (năm Tân Mùi), sau khi đình Quan Xuyên được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích cấp Quốc gia thì chính quyền và nhân dân địa phương đã khôi phục lại lễ hội theo đúng trình tự, nghi thức như xưa.
Ngày nay, thời gian tổ chức lễ hội đã được rút ngắn lại còn ba ngày từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 2 (Âm lịch). Vào những năm không mở hội lớn, nhân dân địa phương vẫn tổ chức hội lệ với quy mô nhỏ hơn, các nghi thức vẫn được diễn ra đảm bảo sự trang trọng, thành kính để tưởng nhớ đến công lao của các vị Thánh, Thần.
1. Công tác chuẩn bị lễ hội
Ngay từ trước Tết Nguyên Đán, chính quyền địa phương tổ chức họp, thành lập ban tổ chức lễ hội, phân công các tiểu ban chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ lễ hội. Cùng thời điểm đó, toàn bộ các di tích trong xã, đặc biệt là khu vực đình Quan Xuyên được ban quản lý di tích, ban khánh tiết và nhân dân trong làng dọn dẹp, trang hoàng lộng lẫy. Các con đường làng đoàn rước đi qua đều cắm cờ thần và cờ Tổ quốc, tạo không khí tươi vui trước những ngày làng mở hội.
Sáng sớm ngày mồng 9 tháng 2 âm lịch, ban tổ chức lễ hội cùng nhân dân trong làng tổ chức lễ mộc dục. Nghi thức này được thực hiện với việc dùng nước trong chóe (được lấy từ sông Hồng trong lễ rước nước kỳ hội trước) để lau ngai, bài vị của các Thánh, các đồ thờ tự trong khu vực nội đình. Việc lau chùi bao sái phải làm theo tuần tự, bắt đầu từ Hậu cung đình làng Quan Xuyên rồi đến miếu Thượng, miếu Trung và miếu Hạ.
Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ “Cáo yết” với ý nghĩa là báo cáo các vị thần linh và kính cẩn mời các ngài về dự lễ hội, phù trợ cho dân làng tổ chức lễ hội được yên vui, một năm thuận lợi mùa màng bội thu. Phía bên ngoài sân đền, ban tổ chức lễ hội cũng tiến hành lắp ráp các kiệu và tập dượt cho các đội trai kiệu, phù giá, đội bát âm,... chuẩn bị cho buổi rước kiệu từ đình đến Nhà sắc.
Buổi chiều ngày 9 tháng 2, Ban tổ chức cùng dân làng tổ chức rước Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng Nhị vị phu nhân, hai vị Thành hoàng Phạm Công Nghi và Vũ Quang Chiếu từ các miếu (miếu Thượng, miếu Trung, miếu Hạ) sang đình. Do các miếu ở ngay cạnh đình, nên việc tổ chức rước có phần đơn giản không phải dùng kiệu rước mà chỉ cử các cụ trong đội tế nam mặc áo thụng dài xanh, quần trắng, đầu đội mũ tế, chân đi hia, làm lễ tại các miếu, báo cáo các vị thần linh và kính cẩn mời các ngài về đình dự lễ hội.
Buổi chiều ngày 10 tháng 2, tổ chức rước kiệu từ đình vào Nhà sắc. Sau một hồi trống báo lệnh đoàn rước được khởi hành. Đi đầu đám rước là đội múa lân vừa đi vừa múa cùng với các chú tễu vừa để dẹp đường, vừa thêm không khí vui tươi trong ngày hội. Kế đến là đội cờ, đội rước chấp kích, bát bửu, trống đại. Theo sau là đội trống con và đội các cháu thiếu nhi cầm hoa, rước ảnh Bác Hồ, đội múa sinh tiền. Kế đến là phường bát âm cùng nhau tấu những bản nhạc rộn rã.
Tiếp theo là 05 cỗ kiệu cổ của làng. Dẫn đầu là kiệu long đình trên đặt bát hương Công đồng và hương hoa. Kiệu thứ hai là kiệu mui luyện (thường gọi là kiệu giá cỗ, sẽ đặt 05 bát hương và sắc phong rước từ Nhà sắc ra đình). Kế đến là 03 cỗ kiệu bát cống (kiệu đồng bành, kiệu hậu bành và kiệu quả lầu). Đi trước mỗi kiệu sẽ có một người cầm trống khẩu vừa đi vừa gióng hiệu để giữ thăng bằng và tốc độ cho kiệu, hai người cầm hai chiếc tàn, lọng để che cho kiệu, vừa đi vừa quay từ từ. Xen giữa các kiệu có các đô tùy, các cụ trong đội tế nam, đội tế nữ đi theo hộ giá. Đi cuối đoàn rước là các bô lão, nhân dân và khách thập phương đến dự lễ hội. Đoàn rước đến Nhà sắc (cách đình khoảng 800m) toàn bộ đồ thờ, cờ quạt, lọng, bát bửu, chấp kích, kiệu rước,... được đặt tại sân Nhà sắc để chuẩn bị cho sáng hôm sau rước sắc về đình.
2. Diễn trình lễ hội
* Ngày 11 tháng 2: Tổ chức rước sắc ra đình, lễ rước nước và dâng hương
Theo chương trình lễ hội, sáng sớm ngày 11 tháng 2 (âm lịch), ban tổ chức và Nhân dân trong vùng đem lễ vật ra Nhà sắc để cùng rước về đình. Lễ vật bao gồm môm xôi, thủ lợn, bánh bánh trái, hoa quả,... Đúng 8h sáng, các cụ trong đội tế nam làm lễ rước sắc từ trong Nhà sắc ra đặt lên kiệu. Sau 3 hồi trống lớn, lễ rước 05 bát hương của các vị thánh/thần và toàn bộ sắc phong từ Nhà sắc về đình được khởi hành.
Quy trình và thứ tự đội hình của lễ rước sắc ra đình, cũng giống như lễ rước từ đình vào Nhà sắc. Chỉ có thêm những đội dâng lễ vật, sau đó mới đến lần lượt các kiệu, các đội hộ giá. Đi cuối cùng đoàn rước là dân làng và du khách. Đám rước đi theo đường giữa làng, qua các ngõ xóm thì đi chậm lại để các xóm lễ Thánh và Thành hoàng, cầu bình an cho xóm. Những gia đình hai bên đường thường chuẩn bị một chiếc bàn, bên trên đặt bát hương, đèn nến và một mâm lễ nhỏ để nghênh lễ.
Khi đoàn rước về đến đình, tất cả các bát hương và sắc phong trong kiệu giá cỗ được rước vào ngự ở trong đình. Sau đó, Ban tổ chức tuyên bố khai mạc và đánh trống hội. Tiếng trống hội như một lời hiệu triệu đầy khí thế, báo hiệu một mùa lễ hội thành công, một năm mới với nhiều thắng lợi. Những nhịp trống nhộn nhịp tuơi vui làm người xem dễ liên tưởng đến âm thanh tươi vui của thôn xóm rộn rã. Đó cũng là những thanh âm hùng tráng, khỏe khoắn thể hiện tinh thần và vẻ đẹp của người nông dân vùng châu thổ có lịch sử ngàn đời.
Vào buổi chiều 11 tháng 2 dân làng tổ chức lễ rước nước. Đúng 2h chiều, đoàn rước khởi hành tiến ra sông Hồng để làm lễ rước nước về đình làng Quan Xuyên. Đi đầu đám rước vẫn là đội múa lân dẹp đường, đội cờ, đội trống, tiếp đến là đội rước biển, chấp kính, bát bửu,... Trình tự đội hình đám rước giống như rước sắc từ Nhà sắc ra đình, chỉ có khác là bớt 02 kiệu (kiệu long đình và kiệu đồng bành), bổ sung thêm đầu rồng và đội hình rước chóe nước.
Để lấy nước trên sông Hồng về dâng Thánh và Thành hoàng, dân làng chuẩn bị ba thuyền lớn. Thuyền thứ nhất được sắp xếp cho ba chủ tế cùng ban tế và các cụ cao niên, trên thuyền còn có chóe nước và lễ vật dâng cúng thủy thần. Các thuyền còn lại chở những trai đinh khiêng kiệu và cầm lỗ bộ, bát bửu, chấp kích và những người cầm cờ, đội bát âm. Từ đây, một cuộc trình diễn du thuyền nô nức, sôi động diễn ra trên sông.
Nghi lễ lấy nước được thực hiện ở giữa sông Hồng. Đây là nghi thức tâm linh đặc sắc biểu hiện tín ngưỡng cầu nước của những cư dân sống với nền văn minh lúa nước ven sông Hồng. Trước khi lấy nước, ba cụ chủ tế dùng một dải khăn đỏ che quanh miệng để tránh làm “uế tạp” tới nước thánh. Các cụ dùng gáo dừa được sơn đỏ múc nước đổ vào chóe.
Nước được lấy xong, đoàn rước quay trở về đền theo cung đường cũ. Ba ông chủ tế trực tiếp khiêng chóe nước vào Hậu cung dâng các vị Thánh và Thành hoàng làng. Nước này dùng để tế Thánh, Thần vào các buổi tế chính trong 3 năm. Người dân nơi đây đã từ lâu nay quan niệm rằng, nước cúng Thánh đựng trong chóe sau khi làm lễ xong thì rất linh ứng/hiệu nghiệm, nếu trong khi trò chơi vật lầu diễn ra mà không may có vật thủ nào bị ngất, cho uống nước cúng Thánh là sẽ khỏi ngay và lại tiếp tục thi đấu được.
* Ngày 12/2 âm lịch: Tổ chức tế lễ (tế nam), vật lão, vật lầu.
Sáng ngày 12 tháng 2, làng tổ chức lễ tế. Nghi thức này do đội tế nam thực hiện. Sự khác biệt trong lễ tế chính của đình Quan Xuyên với các lễ hội khác ở trong vùng đó là có ba chủ tế. Theo lời của các cụ cao niên trong làng truyền lại lý do có ba chủ tế là vì theo quy định của làng, đình làng thờ ba vị thượng đẳng thần (Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa, Tây Sa công chúa) ở gian giữa, hai gian hai bên thờ hai vị trung đẳng thần (Vũ Quang Chiếu và Phạm Công Nghi) vì vậy khi tổ chức các buổi tế chính phải tế ba gian cho nên phải có 3 chủ tế. Đồng thời, Quan Xuyên xưa “Nhất xã tam thôn - 1 xã có 3 thôn”, ba vị chủ tế cũng là ba vị đại diện cho ba làng: Quan Xuyên, Lan Xuyên và Lan Đình.
Vào buổi chiều ngày 12 tháng 2, làng tổ chức vật lão và vật lầu. Xét về quy mô, lễ hội đình làng Quan Xuyên chỉ là lễ hội làng, song do sức hút và tính hấp dẫn của các trò chơi đặc biệt là trò "vật lão" và "vật lầu" mà quy mô lễ hội Quan Xuyên đã vượt qua giới hạn của làng xã, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài huyện đến dự hội. Đây là những trò chơi mang tính đặc thù trong lễ hội vùng châu thổ sông Hồng. Xưa kia, trò "vật lão" và "vật lầu" được diễn ra trong 3 ngày liên tục từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 2 (âm lịch), trò chơi diễn ra sôi động và quyết liệt. Còn ngày nay được tổ chức vào buổi chiều trong 02 ngày, từ 12 đến 13 tháng 2 (âm lịch). "Vật lão" được tổ chức trước khi "vật lầu" và chỉ diễn ra một lần duy nhất vào khoảng 14h chiều ngày 12 tháng 2.
Vật lão
Hai đô vật lão được chọn lựa là hai cụ già cao tuổi đại diện cho làng Thượng và làng Hạ, các cụ có gia đình phải song toàn, gương mẫu con cháu đông đúc cả nam và nữ, được dân làng kính trọng. Hai cụ mặc quần áo trắng đầu quấn khăn đỏ/vàng và đóng khố. Sau khi thắp hương lễ Thánh trước cửa đình và ra trình làng, một hồi trống và tiếng thanh la nổi lên, hai cụ bắt đầu bước vào sới. Sới vật là khoảng sân rộng trước cửa đình, hai cụ biểu diễn các động tác võ vật, lúc tách ra lúc nhập vào ôm vai nhau mang tính tượng trưng. Vật lão chỉ diễn ra khoảng 15 phút (chia thành 03 keo). Khi kết thúc cuộc vật, cả già trẻ trai gái, đặc biệt là các vật thủ sẽ đổ xô về phía hai cụ để xé dải lụa đỏ trên đai lưng của hai cụ với mong muốn có một mảnh vải nhỏ đeo lên tay để cầu mong sức khỏe, công việc thuận lợi, gặp nhiều may mắn, lấy khước cho các cháu nhỏ dễ nuôi. Tuy là cuộc vật, song đây chỉ mang yếu tố tượng trưng, điều cốt lõi ở đây là đề cao tinh thần thượng võ rèn luyện sức khỏe, cầu mong khỏe mạnh, sống lâu.
Sau khi Vật lão kết thúc là đến Vật lầu.
Tương truyền, trò vật lầu là do Thành hoàng Vũ Quang Chiếu sáng tạo ra để mô phỏng sự lênh đênh sông nước của người em kết nghĩa Phạm Nghi Công. Ban đầu trò chơi đơn giản, ít người tham gia. Về sau được bổ sung và hoàn thiện như ngày nay.
.jpg)
Vật lầu
Số lượng người tham gia trò chơi vật lầu là 72 người, chia làm hai đội, mỗi đội 36 người, một đội đại diện cho làng Thượng, một đội đại diện cho làng Hạ. Chỉ huy đội vật lầu gồm ba người, một người làm chấp hiệu (chỉ huy chung), hai người làm tổng cờ, mỗi người chỉ huy một đội. Tất cả ba người đều do dân bầu ra nhằm điều hành trận đấu.
Làng Quan Xuyên có hai quả lầu. Quả lầu xưa đường kính 40 cm, nặng hơn chục cân, đã bị tróc hết sơn có từ thời ông Vũ Quang Chiếu dạy dân chơi trò vật lầu trong ngày hội làng. Do quả lầu đó to và nặng, dân làng đã làm thêm một quả lầu mới (cách ngày nay trên 100 năm) bằng gỗ mít đường kính 30 cm, nặng khoảng 7kg, sơn đỏ.
Sân vật lầu là một thửa ruộng trước cửa đình, hàng năm làng chuẩn bị vào hội thì thửa ruộng đó không cấy nữa. Theo quy định của làng, chiều dài của sân là 65m, chiều rộng là 45m. Mặt sân bằng phẳng, gồm 3 hố lầu, trong đó có một hố lầu cái và hai hố lầu con. Hố cái to gấp đôi hố con, hố cái được đào ở chính giữa sân, sâu 1,2m đường kính 1,5m. Còn hai hố con được đào ở hai đầu sân với chiều sâu là 0,6m, đường kính hố lầu con là 0,8m. Khoảng cách từ hố lầu cái đến hố lầu con là 30m.
Ngay sau khi vật lão kết thúc, hai đội sắp xếp đội hình ở sân đình thành hai hàng lễ thánh. Hai cụ già vật lão giao quả lầu cho các vật thủ. Các vật thủ hai đội nhanh chóng xếp thành hàng nối tiếp nhau, truyền quả lầu trên đầu ra hố lầu ở giữa sân bãi vật lầu. Sau đó, hai đội trở về hai bên sân bãi, xếp thành hàng ngang. Tiếng thanh la, trống, chiêng, tù và cùng tiếng reo hò vang lên, các vật thủ hai đội chạy vòng quanh sân và bắt tay nhau, vừa để trình làng, vừa để khởi động trước khi vào chơi. Tổng cờ chỉ huy phát lệnh cho hai đội trở về vị trí theo quy định, chỉnh đốn đội hình.
Hai đội chọn lựa mỗi đội một người khỏe nhất, nhanh nhẹn và khéo léo nhất ra trước hai đội để cướp lầu. Tổng cờ chỉ huy, người chấp hiệu đánh thanh la báo hiệu, trận đấu bắt đầu:
“ Một tiếng đứng lên.
Hai tiếng doãi chân chèo.
Ba tiếng chạy đến hố vật lầu”.
Hai vật thủ đại diện cho hai đội chạy thật nhanh, nhảy xuống hố lầu cái. Hai vật thủ dựa vào sức khỏe, sự khôn khéo của mình để giành lấy quả lầu đưa về phía đội mình.
Trong lúc vận chuyển quả lầu từ hố lầu cái lên sân thì vật thủ được sử dụng tay để ôm quả lầu vào lòng, tất cả các vật thủ còn lại không được sử dụng tay mà chỉ sử dụng sức cơ bắp của chân, của lưng, của mông. Vật thủ nào sử dụng tay trong khi chơi coi như là phạm luật. Người chơi đạp chân xuống đất làm điểm tựa truyền lực qua lưng, vai hoặc mông, truyền lực cho người mình nhích dần lên, để đẩy quả lầu về phía sân đội mình. Đội thắng sẽ là đội đưa quả lầu vào hố lầu đội mình.
Trong cuộc chơi, có vật thủ nào mệt quá ngất đi thì được khiêng vào lễ thánh trong đình, xin nước thánh cho uống. Theo các cụ cao tuổi trong làng, tất cả các vật thủ khi được uống nước thánh đều tỉnh ngay và tiếp tục lao vào cuộc chơi. Trong truyền thống tổ chức trò chơi của hội làng chưa có một vật thủ nào bị gãy chân, gãy tay hoặc thương tích nghiêm trọng mặc dù cuộc chơi rất quyết liệt, điều đó càng chứng tỏ tính linh thiêng và độc đáo của trò chơi.
Mỗi hiệp đấu thường kéo dài khoảng 15 phút, rồi nghỉ giải lao 10 - 15 phút và sau đó lại chơi. Sau 03 hiệp, nếu cả hai đội không đưa quả lầu vào hố lầu của đội mình được thì đội thắng căn cứ vào khoảng cách từ hố lầu trung tâm về hố lầu con. Theo các cụ cao niên, trò chơi này hiếm khi đạt được kết quả thắng thua tuyệt đối. Giải thưởng cho các đội là trầu cau và lễ vật đã dâng thánh, như bánh dày, xôi,... chủ yếu mang giá trị tinh thần. Mọi người tham gia rất phấn khởi, tin rằng trong năm gia đình mạnh khỏe, làm ăn thịnh vượng.
Ngoài trò chơi vật lầu, lễ hội đình làng Quan Xuyên còn diễn ra rất nhiều trò chơi khác (như đánh cờ tướng, đi cầu kiều, bắt vịt trong ao, đập niêu, bịt mắt bắt lợn/dê,...) những hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ (như hát chèo, hát quan họ thuyền rồng, đốt cây bông, biểu diễn Karate, võ quạt, bóng đá, bóng chuyển,...) Đây là những họat động rất sôi nổi, hấp dẫn và lý thú, thường diễn ra xen kẽ trước hoặc sau trò chơi vật lầu. Bởi vì theo quy định của làng trong lúc tế thánh ở đình và trò chơi vật lầu diễn ra thì mọi họat động khác đều phải tạm hoãn lại. Vì dân làng Quan Xuyên quan niệm rằng: lễ tế, lễ rước và trò vật lão, vật lầu là phần linh hồn của lễ hội, nó là những hoạt động quan trọng và linh thiêng thể hiện sự thành kính của dân làng đối với những vị thần của mình.
* Ngày 13 tháng 2: Tổ chức tế lễ (tế nữ), vật lầu, tạ khóa.
Vào sáng ngày 13 tháng 2, làng tổ chức tế nữ quan. Quy trình tế lễ cũng giống với quy trình đội tế nam thực hiện, chỉ khác là đội tế nữ chỉ thực hiện nghi thức tế lễ tại tòa Đại bái đình, không dâng lễ vật vào tòa Hậu cung.
Vào buổi chiều, diễn ra các hoạt động vật lầu (vật tạ), các trò chơi như kéo co, bắt trạch trong chum,… rất sôi động.
Cuối buổi chiều ngày 13 tháng 2, dân làng tổ chức lễ “tạ khóa”, đây là một nghi thức không thể thiếu trong ngày hội đình làng Quan Xuyên. Trong buổi lễ tạ dân làng chỉ dâng lễ chay gồm: xôi, oản, bánh khảo,... Cụ chủ tế người làng Quan Xuyên đại diện cho các quan viên, chức sắc và dân làng vào làm lễ tạ. Sau bài khấn tạ các thần linh đã “cho” dân làng tổ chức được một khóa hội thành công và mong các vị thần linh phù trợ cho dân làng mùa màng bội thu, mọi người trong làng khỏe mạnh, đồng thời “xin” cất đi những “đồ của thần” như: cờ, quạt, trống, chiêng, tù và, các đồ tế khí, xếp kiệu lại/đóng cửa đình và các miếu/kết thúc lễ hội.
Lễ hội đình Quan Xuyên Tử là một trong những lễ hội lớn, hội tụ đầy đủ giá trị một lễ hội tiêu biểu của cư dân vùng châu thổ sông Hồng. Lễ hội đã phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và con người. Đó chính là bức tranh chân thực về đời sống phong phú, sinh động của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong việc mở mang ruộng đồng, xây dựng xóm làng, đấu tranh bảo vệ tổ quốc,.... Lễ hội cung cấp những tư liệu quý giá không chỉ cho các nhà nghiên cứu văn hóa, mà còn là nguồn sử liệu về lịch sử, xã hội, con người, phong tục tập quán của cộng đồng cư dân nơi đây.
Lễ hội đình Quan Xuyên là môi trường gìn giữ và thực hành nhiều nghi thức, nghi lễ (như tế lễ, rước nước, rước kiệu,…), nghệ thuật truyền thống (như múa lân, múa sinh tiền, hát quan họ,…) và các trò chơi dân gian mang tính tập thể (vật lão, vật lầu,…) phản ánh rõ nét tín ngưỡng đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước. Nhiều nghi thức/trò diễn trong lễ hội (như rước nước, vật lầu,…) có liên quan đến nước, mặt trời - là những thành tố quan trọng liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Thông qua các nghi thức này, nhân dân muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, con người khỏe mạnh.
Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng lễ hội của dân tộc; biểu dương những giá trị văn hóa và sức mạnh của cộng đồng, tạo nên tính cố kết bền chặt cộng đồng. Lễ hội đã thu hút được đông đảo người dân trong xã cũng như nhân dân các vùng lân cận tham gia hưởng thụ những giá trị văn hóa và tham gia vào quá trình tái sáng tạo văn hóa./.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 3993/QĐ-BVHTTDL về việc đưa Lễ hội đình Quan Xuyên, xã Thành Công, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.