Lễ hội đền Hóa - Dạ Trạch (còn có tên gọi là Lễ hội tổng Vĩnh, Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Lễ hội tình yêu) là một trong những lễ hội trọng điểm của tỉnh Hưng Yên, mang những nét đẹp riêng của vùng quê văn hiến, thấm đượm văn hóa dân gian và gắn liền với truyền thuyết về một trong “tứ bất tử” theo tâm thức dân gian người Việt. Hiện nay, chưa có tài liệu nào ghi chép lại chính xác về thời điểm hình thành lễ hội, chỉ biết đó là một tập tục truyền thống, một thói quen sinh hoạt văn hóa của người dân Dạ Trạch từ bao đời nay.
Đền Hóa Dạ Trạch nơi diễn ra lễ hội
Lễ hội đền Dạ Trạch xưa kia vốn là lễ hội hàng tổng (tổng Vĩnh/Yên Vĩnh) với sự tham gia của 8 làng: Yên Vĩnh, Đức Nhuận Thượng (nay thuộc xã Dạ Trạch), Đức Nhuận Hạ, Xuân Đình, Hàm Tử (nay thuộc xã Hàm Tử, huyện Khoái Châu), Đông Tảo Đông, Đông Tảo Nam, Đông Kim (nay thuộc xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu). Lễ hội được tổ chức đến năm 1942 thì bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác. Đến năm 1989, sau khi đền Hóa được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích “Lịch sử” cấp Quốc gia (theo Quyết định số 28-VH/QĐ ngày 18/01/1988) thì chính quyền và nhân dân xã Dạ Trạch đã khôi phục lại lễ hội theo đúng trình tự, nghi thức như xưa.
Theo thông lệ, cứ ba năm một lần, từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 2 (âm lịch), nhân dân trong tỉnh Hưng Yên và du khách thập phương lại háo hức tiến về xã Dạ Trạch thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên để tham dự lễ hội. Vào những năm không mở hội lớn, nhân dân địa phương vẫn tổ chức hội lệ với quy mô nhỏ hơn, các nghi thức diễn ra đơn giản nhưng vẫn đảm bảo sự trang trọng, thành kính tưởng nhớ đến công lao của Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng Nhị vị phu nhân là Tiên Dung Công Chúa và Tây Sa Công chúa.
Ngay từ trước Tết Nguyên Đán, các gia đình trong xã đều thu xếp công việc, cắt cử con cháu tham gia chuẩn bị lễ hội của làng cùng với chính quyền và các đoàn thể của xã. Trẻ thì xung phong vào các đội múa rồng, đội khiêng kiệu Thánh, già thì chủ trì việc tế lễ, lo khánh tiết, hậu cần,…
Theo chương trình lễ hội, sáng sớm ngày 10 tháng 2 (âm lịch), đoàn rước nước của xã Dạ Trạch được cử hành từ đền Hóa tiến ra sông Hồng lấy nước. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng. Tiếp đến là đội trống, đội cờ, bát bửu, chấp kích, đội múa bồng. Theo sau là các kiệu: kiệu chóe đựng nước, kiệu bế ngư thần quan (là tượng một con cá bằng gỗ, đầu rồng, thân cá, dài hơn 1m sơn son thếp vàng rực rỡ). Ấn tượng nhất là chiếc kiệu rước gậy, có nón úp lên đầu gậy biểu tượng gợi nhớ uy linh của Thánh Chử. Xen vào đội hình là các đội tế, những cô gái trong trang phục truyền thống đi hộ giá kiệu. Đoàn rước ra tới sông Hồng, các kiệu và nghi trượng để trên bờ, chỉ có đôi rồng và kiệu khiêng chóe nước được mang xuống thuyền. Từ đây, một cuộc trình diễn du thuyền nô nức, sôi động diễn ra trên sông. Trên bờ sông Hồng, dân chúng náo nức, chen nhau ngắm những chiếc thuyền lớn, cờ hội tung bay đang lướt đi trên mặt nước còn mờ hơi sương. Không khí này gợi nhớ đến mấy nghìn năm hồng hoang thuở trước, khi công chúa Tiên Dung cờ quạt rộn ràng, du thuyền để vãn cảnh sông Hồng và đã ngẫu hợp Chử Đồng Tử tại bãi cát Tự Nhiên, bắt đầu cuộc tình duyên đầy ý trời này. Hàng nghìn con mắt đang dõi theo đoàn thuyền, nhìn ai cũng đang mơ màng như sống trong truyền thuyết xưa.
Lễ lấy nước được thực hiện ở giữa sông. Đây là nghi thức tâm linh đặc sắc biểu hiện tín ngưỡng cầu nước của những cư dân sống với nền văn minh lúa nước ven sông Hồng. Trước khi lấy nước, hai cụ cao niên dùng một vòng tròn (đường kính khoảng 35cm) được kết vải đỏ thả trên mặt nước với ý nghĩa gạn hết bụi bặm của sông nước lọc lấy những gì tinh khiết nhất của dòng sông. Chiếc vòng được giữ cho khỏi trôi bằng một sợi dây nhỏ cũng màu đỏ, các cụ dùng gáo dừa (được sơn đỏ toàn bộ) múc 9 gáo nước trong vòng tròn đổ vào chóe. Nước được lấy xong, đoàn thuyền diễu hành thêm một vòng trên sông Hồng rồi mới lên bờ quay trở về đền với đôi rồng dẫn đầu. Trên đường trở về, những gia đình hai bên đường. thường chuẩn bị một chiếc bàn, bên trên đặt bát hương, đèn nến và một mâm lễ nhỏ để nghênh lễ.

Hai cụ cao niên dâng chóe nước vào nội đền
Khi đoàn rước về tới đền, chóe nước được dâng vào Hậu cung đền. Đây là một truyền thống có từ thời xa xưa của người dân Dạ Trạch, bình nước được đặt lên ban thờ trong cả năm và đợi đến đám rước năm sau mới thay nước mới. Đồng thời, cụ chủ tế dẫn vào Hậu cung bộ ba: chàng trai và hai cô gái (chưa vợ, chưa chồng). Chàng trai trong trang phục áo dài lễ màu đỏ bằng lụa, thắt lưng vàng, đầu đội khăn xếp cùng màu với trang phục. Hai cô gái trong trang phục áo dài lụa một hồng, một xanh, trên đầu quấn khăn vành dây kiểu hoàng hậu có cùng màu với áo. Trên tay họ là những bó hoa cúc kèm ba nén hương dâng lên lễ Thánh. Nghi thức này biểu hiện cho sự “hiện về” của Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng Nhị vị phu nhân. Cặp trai gái trên lễ xong là lễ xin để kiệu, ngai, bài vị, tượng ông Bế, đôi ngựa và nón gậy của Thánh trên sân đền để chờ đến ngày làm lễ rước “Phát du”.
Trong lúc này, ở bên ngoài, Ban tổ chức tuyên bố khai mạc lễ hội. Tiếp đến là màn trống hội với sự hòa âm của những chiếc trống to nhỏ như một lời hiệu triệu đầy khí thế, báo hiệu một mùa lễ hội thành công, một năm mới với nhiều thắng lợi. Tiếng trống nhộn nhịp tuơi vui làm người xem dễ liên tưởng đến âm thanh tươi vui của thôn xóm rộn rã. Đó cũng là những thanh âm hùng tráng, khỏe khoắn thể hiện quan điểm thẩm mĩ của người nông dân vùng châu thổ có lịch sử ngàn đời.
Trong ngày 11 tháng 2 (âm lịch), chính quyền và nhân dân tổ chức tế lễ tại đền. Ngoài đội tế của làng Yên Vĩnh, Ban tổ chức còn mời các đội tế của các làng, xã lân cận trong huyện, trong tỉnh như: Đội tế nữ các xã Tứ Dân, Tân Dân, Hàm Tử (Khoái Châu), Từ Hồ (Yên Phú, Yên Mỹ), Đức Nhuận (cùng xã), Vân Nghệ (Kim Động),... về đền tế Thánh. Lễ vật dâng Thánh tại Hậu cung đền là cỗ chay, trong đó nhất thiết không thể thiếu đôi bánh xôi được tạo thành hình tròn và hình vuông thật lớn đặt khít trong lòng hai chiếc mâm, là biểu tượng cho trời và đất.
Buổi chiều, trong các ngày hội, trên bãi cỏ rộng bên sân đền, dân làng tổ chức nhiều các trò chơi truyền thống: chọi gà, đấu cờ, đi cầu kiều, đập niêu, bắt vịt,... thu hút sự tham gia của đông đảo người dân trong vùng và du khách, đặc biệt là các bạn thanh niên trẻ. Trong các buổi tối (từ ngày mồng 9 đến ngày 11), có chương trình giao lưu văn nghệ giữa các làng trong xã và cả các đoàn văn nghệ đến từ các xã bạn (trong huyện, trong tỉnh) với những bài hát chèo, hát trống quân, ca trù, hát quan họ, những ca khúc mừng Đảng, mừng xuân, ca ngợi cảnh đẹp quê hương đất nước,…
Bên cạnh nghi thức rước nước hoành tráng biểu hiện tín ngưỡng cầu nước của những cư dân sống với nền văn minh lúa nước ven sông Hồng, thì lễ rước “phát du” cũng là một nghi thức chính, đặc sắc tạo nên linh hồn của lễ hội đền Dạ Trạch. Diễn ra cùng ngày với Lễ hội đền Dạ Trạch còn có Lễ hội Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu. Tuy hai lễ hội diễn ra cùng thời điểm và cùng thờ chung vị thần chủ là Chử Đồng Tử cùng Nhị vị phu nhân, nhưng từ xa xưa đến nay, đây vẫn là hai lễ hội lớn riêng biệt. Bên cạnh những nghi thức mang tính tương đồng, thì bản thân mỗi lễ hội đều có những nét đặc sắc riêng. Lễ hội đền Dạ Trạch cũng là lễ hội liên làng giống như lễ hội đền Đa Hòa, nhưng trong lễ hội đền Dạ Trạch không có nghi thức rước Thành hoàng làng các làng về làm lễ “bái yết” Đức Thánh Chử. Các thần (thành hoàng các làng) dường như đều đã quy tụ dưới trướng của Thánh Chử, không cần một “đại hội” của liên minh các thần linh nữa. Thay vào đó là cuộc diễu hành của Thánh Chử mà nhân dân tổng Vĩnh (cũ) gọi là lễ rước “phát du” (Phát du có nghĩa là Dạo chơi - Kiệu Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng Nhị vị phu nhân được rước từ đền Dạ Trạch dạo chơi qua các làng, đi du ngoạn nơi cảnh cũ) đã chứng minh cho sự chinh phục thành công của Thánh Chử đối với các thần linh trong vùng và cũng là sự thành công của nhóm cư dân ở đây trong công cuộc chinh phục vùng đầm lầy Dạ Trạch.
Lễ rước “phát du” được chính quyền và nhân dân tổ chức vào ngày 12 tháng 2 (âm lịch). Đúng 8 giờ sáng, kiệu Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng các kiệu Nhị vị phu nhân, kiệu nón và gậy, kiệu bế ngư thần quan cùng khởi hành từ đền Dạ Trạch trong tiếng trống, tiếng nhạc bát âm, sinh tiền rộn rã khắp các nẻo đường. Xưa kia, cung đường rước của đoàn rước “phát du” rất rộng lớn, đi qua nhiều làng thuộc địa phận tổng Vĩnh. Khi tới làng nào thì làng đó sẽ chuẩn bị một ban thờ đặt tại đầu làng để nghênh đón Thánh cùng lễ vật để tạ ơn. Đoàn rước thường dừng chân ở đình Từ Hồ (xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ) - một di tích thờ Đức Thánh Chử cùng Nhị vị phu nhân và giữa hai làng có tục giao hiếu, hoặc đình Đông Kim (thuộc xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu - quê của Tây Sa công chúa) để làm lễ ở “nhà ngoại”. Những năm gần đây, phạm vi đám rước chỉ diễn ra trong địa phận các làng thuộc xã Dạ Trạch, qua khu đầm Nhất Dạ và dừng chân tại đình Đức Nhuận (cùng xã) tế lễ. Buổi chiều đoàn rước phát du quay trở về đền Hóa. Sau đó, Ban Tổ chức tuyên bố bế mạc lễ hội. Đồng thời, cụ thủ từ làm lễ xin đóng cửa đền, rước ngai, bài vị, nón và gậy, tượng Bế ngư thần quan về lại Hậu cung đền.
Đến với lễ hội đền Hóa - Dạ Trạch, du khách còn được thưởng thức những làn điệu Hát trống quân đặc sắc, một điệu hát giao duyên ứng tác, truyền từ đời nọ sang đời kia trên mảnh đất Dạ Trạch. Hát trống quân luôn tồn tại như một thành tố không thể thiếu vừa góp vui cho phần hội, vừa là dịp trai gái hát trao duyên tìm hiểu nhau. Sau nhiều năm tháng mai một, giờ đây, hát Trống quân lại có dịp khoe duyên cùng du khách những làn điệu mộc mạc mà duyên dáng, đằm thắm như chính thiên nhiên và con người nơi đây. Theo các cụ cao niên kể lại, điệu hát Trống quân ngày trước được tổ chức vào dịp nông nhàn khi cây lúa đã xanh ngoài bãi, hoặc khi hạt thóc, củ khoai đã nằm gọn trong nhà. Ngày hội Chử Đồng Tử cũng là dịp để người dân nghe hát. Nơi diễn ra thường là khu vực nội đền, sân đền hoặc là mảnh đất trống trong khuôn viên di tích. Những làn điệu Trống quân thường được các nghệ nhân thể hiện là 04 bài hát cổ: Bài Chào, Thách cưới, Giao duyên, Đố Kiều mời trầu. Ngoài ra, còn có các tác phẩm sáng tác thêm sau này như: Chuyện tình Đồng Tử - Tiên Dung, Nhân duyên tiền định, Dạ Trạch hóa từ, Quê tôi có Triệu Việt Vương,… gắn liền với truyền thuyết về thiên tình sử giữa chàng trai đánh cá nghèo họ Chử và nàng công chúa Tiên Dung xinh đẹp con gái vua Hùng, về mảnh đất Dạ Trạch anh hùng,… Năm 2016, Hát Trống quân Dạ Trạch đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể của Quốc gia.
Như vậy, có thể thấy, lễ hội đền Hóa - Dạ Trạch gắn liền với tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử là một trong những lễ hội lớn, hội tụ đầy đủ giá trị một lễ hội tiêu biểu của cư dân vùng châu thổ sông Hồng. Lễ hội là môi trường gìn giữ và thực hành nhiều nghi thức, nghi lễ (như tế lễ, rước nước, rước kiệu,…), nghệ thuật truyền thống (như múa rồng, múa sinh tiền, múa bồng, hát trống quân,…) và các trò chơi dân gian đặc sắc,… phản ánh rõ nét tín ngưỡng đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng thời, lễ hội cũng phản ánh lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất và con người. Đó chính là bức tranh chân thực về đời sống phong phú, sinh động của người Việt cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ trong việc khai phá đầm lầy, phù sa ven sông Hồng thành đồng ruộng từ hàng ngàn năm trước. Lễ hội cung cấp những tư liệu quý giá không chỉ cho các nhà nghiên cứu văn hóa, mà còn là nguồn sử liệu về lịch sử, xã hội, con người, phong tục tập quán của cộng đồng cư dân nơi đây.
Bên cạnh đó, Lễ hội đền Hóa - Dạ Trạch còn mang giá trị văn hóa sâu sắc, là bài ca về lòng hiếu thảo, đề cao vai trò của người thầy thuốc, phản ảnh ước mơ bình dị của người dân trong xã hội phong kiến, với mong muốn được tự do yêu đương, tự do hôn nhân vượt khỏi lễ giáo gò bó, khát vọng được bình đẳng, dân chủ của người dân lao động. Đức Thánh Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân được thờ phụng và mở hội tưởng nhớ ở nhiều làng thuộc vùng châu thổ Sông Hồng. Nhưng hiếm có nơi nào Ngài lại được nhân dân sùng kính như ở Dạ Trạch. Điều này được thể hiện qua cả những tục hèm như kiêng không úp nón lên đầu gậy, lên cán cuốc, vì cho rằng làm như vậy là có ý bắt chước, là chế nhạo thần linh. Nhân dân Dạ Trạch còn có tục kiêng tên húy các vị thánh, thần.
Lễ hội đền Hóa - Dạ Trạch là lễ hội tình yêu độc đáo, là điểm tham quan, du lịch đặc sắc, hấp dẫn không thể thiếu của mỗi du khách trong tour du lịch đồng bằng sông Hồng. Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, khơi dậy lòng tự hào của cộng đồng với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; biểu dương sức mạnh và tinh thần đoàn kết của cộng đồng; góp phần làm phong phú thêm kho tàng lễ hội của dân tộc. Lễ hội Đền Đa Hòa và Đền Hóa Dạ Trạch là một trong những lễ hội truyền thống có quy mô lớn và ra đời sớm ở Hưng Yên, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 152/QĐ-BVHTTDL và 153/ QĐ-BVHTTDL ngày 02/02/2023. Đây là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thứ ba và thứ tư của tỉnh Hưng Yên được ghi danh, tiếp sau Lễ hội đền Tống Trân (xã Tống Trân, huyện Phù Cừ) và Lễ hội Cầu Mưa (xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm).