Chùa Keo (xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên) là một trong số ít những ngôi chùa cổ của nước ta hiện nay còn bảo tồn gần như nguyên vẹn nét kiến trúc cổ từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII). Trong quần thể kiến trúc của ngôi chùa cổ gần 400 năm tuổi, nổi bật công trình Gác chuông được đánh giá là kiến trúc độc đáo bậc nhất ở đồng bằng Bắc Bộ nước ta, trở thành biểu tượng của di sản văn hóa, niềm tự hào của kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam.
Gác chuông chùa Keo - Kiệt tác kiến trúc gỗ độc đáo.
Gác chuông chùa Keo được làm bằng gỗ, theo kiểu kiến trúc chồng diêm, cổ các; chạm khắc trang trí mỹ thuật có vẻ đẹp lộng lẫy mang đậm tính nghệ thuật và kỹ thuật cao của thế kỷ XVII. Gác chuông cao 11,04 m; năm 2007, được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập Gác chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam.
Gác chuông được chia làm ba tầng, mỗi tầng bốn mái toả ra bốn hướng; các mái có đầu đao uốn cong mềm mại khiến toàn bộ công trình tựa như một bông hoa sen khổng lồ, thanh thoát. Vẻ đẹp thanh nhã ấy là minh chứng sinh động cho tư duy thẩm mỹ tinh tế trong kiến trúc truyền thống của người Việt.
Kiến trúc mặt bằng Gác chuông chùa Keo theo hình vuông (tương đối). Mặt nền tầng một được lát gạch, ba mặt xung quanh có dậu bằng gỗ, ba mặt dậu để ba cửa lên xuống, có hai bậc bước lên cửa. Mặt sàn các tầng trên có diện tích thu nhỏ dần so với mặt sàn tầng dưới, được lát gỗ. Hệ thống ván sàn của Gác chuông chùa Keo cũng mang những ý nghĩa riêng về truyền thống. Sàn ván tầng hai được bào trơn, ghép phẳng như hình chiếc phản vốn được phổ biến ở nông thôn nước ta. Hệ thống ván sàn tầng ba và tầng thượng cũng được lát bằng gỗ, lối đi lên xuống tầng hai, ba và tầng thượng bằng hệ thống cầu thang tay vịn làm bằng gỗ, mang đặc trưng kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Việt cổ, một loại hình kiến trúc vẫn còn được duy trì phổ biến trong nhà ở của đồng bào miền núi ngày nay.
Bộ khung kiến trúc Gác chuông gồm bốn cột cái lớn và mười hai cột quân vây quanh. Cột cái được làm theo dáng búp đòng (thu nhỏ khi càng lên cao) được đặt trên tảng đá thắt cổ bồng. Cột cái tầng một và tầng hai là cây gỗ liền vươn qua sàn tầng hai tới sàn tầng ba; tiếp đó lại thêm bốn cột cái đặt trên các đoạn xà ghép mộng từ cột cái bên dưới và vươn tiếp lên đỡ vì nóc, liên kết với hệ thống cột hiên, xà ngang, xà nóc, kẻ góc tạo nên khung gánh tải trọng của toàn bộ gác chuông.
Trụ đá kê chân cột Gác chuông được thiết kế theo kiểu thắt cổ bồng.
Gác Chuông có tổng cộng 12 mặt mái, đỡ mái ở tầng một là kiểu kẻ, nhưng điều đặc biệt làm nên giá trị kiến trúc cho công trình là việc sử dụng các đấu củng để đỡ mái các tầng hai và ba. Trong kết cấu này, một hệ thống chồng đấu được tạo chạy suốt theo chiều dài của mái ngoài; tiếp đến là hệ thống rui chạy sát rìa mái rồi đến hệ thống rui bay đặt trên đầu các hàng đấu chồng nhau, nhô hẳn ra ngoài, tạo nên yếu tố trang trí khá đặc biệt cho Gác chuông chùa Keo. Kết cấu “chồng đấu - tiếp rui” được làm với số lượng nhiều và ở các tầng cao, rất hiếm gặp trong kiến trúc gỗ Việt Nam truyền thống.
Thành công lớn nhất của mỹ thuật kiến trúc Gác chuông chùa Keo là tỷ lệ giữa các tầng kiến trúc rất cân đối, tỷ lệ hợp lý giữa các bờ nóc, bờ thẳng, bờ mềm; độ vươn của bờ nóc góc đao được hài hoà trong tổng thể kiến trúc. Tính được độ thu, thách giữa các tầng; cự lý dãn cách giữa các cột chuẩn xác, khoẻ về lực, đẹp về dáng; độ thu, trả vừa phải của các tầng hiên, tầng mái; và đưa thêm dàn đấu củng, rui bay tập hợp các thanh mảnh thành cụm, thành dàn, thành lớp thực chất đã phản ánh trình độ khoa học khá cao về vật lý của người kiến trúc sư và người thợ thủ công xưa điêu luyện tay nghề.
Cùng với giá trị nghệ thuật, Gác chuông chùa Keo còn lưu giữ những cổ vật quý giá là khánh đá và ba quả chuông đồng. Khánh và chuông đồng không chỉ là những đại Pháp khí của nhà Phật, mà còn là biểu tượng tâm linh sâu sắc, thể hiện tinh thần từ bi, trí tuệ, con đường giác ngộ của đạo Phật.
Khánh đá có niên đại thời Nguyễn, treo tại tầng một Gác chuông.
Chuông đồng niên đại Chính Hoà thứ 19 (1698), treo tại tầng hai Gác chuông.
Chuông đồng niên đại Cảnh Thịnh thứ tư (1796), treo tại tầng ba Gác chuông.
Với vẻ đẹp về tạo dáng, chiều sâu về trí tuệ, Gác chuông chùa Keo đã trở thành công trình kiến trúc cổ đặc sắc của kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Trải qua gần 400 năm cùng bao biến thiên của lịch sử, Gác chuông chùa Keo trường tồn, cổ kính như một biểu tượng tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc gỗ truyền thống nước ta. Công trình không chỉ có giá trị đặc biệt về lịch sử, kiến trúc mỹ thuật; là niềm tự hào, là không gian văn hoá tâm linh gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân nơi đây; mà còn trở thành công trình kiến trúc đặc biệt thu hút với các chuyên gia nghiên cứu và du khách tham quan khắp trong và ngoài nước khi đến với chùa Keo. Vì vậy, công tác quản lý, bảo tồn gắn với tuyên truyền, giáo dục và phát huy giá trị của Gác chuông chùa Keo có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần bồi đắp niềm tự hào về truyền thống văn hiến của quê hương, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong việc giữ gìn, phát huy di sản văn hoá dân tộc.
Phạm Thị Phương