Nằm ở xứ Thì Đầm thuộc thôn 1, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên), Dinh Ông Quận là một công trình kiến trúc được làm bằng đá có giá trị về lịch sử cũng như nghệ thuật điêu khắc thời Hậu Lê thế kỷ thứ 18 ở Hưng Yên mà cho tới nay vẫn còn sơ khai, ít người biết tới. Dinh Ông Quận là một trong số những công trình kiến trúc đá được xây dựng lên mà chưa xác định có hay không phần mộ chí. Tương truyền, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, dân quân du kích đào hầm chú ẩn gần sập đá đã chạm phải vật cứng nghi là quách song họ lấp đi không đào lên.
Sập đá tại dinh Ông Quận
Xuất thân ông Quận không phải người gốc Hưng Yên mà ở làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Việc ông mua đất dựng sinh từ ở nơi không phải quê hương đến nay cũng có một vài giả thiết cho rằng: Làng Bát Tràng vốn nơi đất chật người đông, ruộng đồng ít, dân chủ yếu sinh sống bằng nghề gốm sứ bởi thế ông Quận đã về vùng Xuân Quan nơi đất đẹp dựng dinh thự; mặt khác giả thiết cho rằng ông Quận là người không có con cái nên đã mua đất để gửi hậu về sau. Tuy ông Quận không phải người Hưng Yên song những gì ông để lại cho tỉnh ta là hệ thống di vật tiêu biểu, đồ sộ bằng đá gồm: sập đá, bia đá, hương án đá, voi đá, chó đá, được chạm khắc công phu, tỷ mỷ bởi bàn tay khéo léo, tài hoa của các nghệ nhân đương thời.
Thân thế vị Quận Công đến nay vẫn là điều bí ẩn, ít người tìm hiểu, nghiên cứu về công trạng cũng như cuộc đời ông. Nhưng căn cứ vào hai tấm bia niên hiệu Vĩnh Hựu (1735) thời vua Lê Ý Tông dựng tại Dinh Ông cho thấy: Ông Quận tên là Nguyễn Thành Châu, người làng Bát Tràng làm quan dưới triều vua Lê - Chúa Trịnh. Ông được phong đến chức Quý Quận Công. Trong thời gian làm quan ông đã về vùng Xuân Quan mua đất, thuê thợ đục đá xây dinh làm nơi an nghỉ lúc cuối đời.
Dinh Ông Quận được dựng hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối, mỗi di vật đều toát lên vẻ khác nhau. Việc thiết kế, đo đạc kích thước, đặt vị trí vật đó cũng được tính toán chính xác theo tỷ lệ tương thích trong thuyết phong thủy. Mỗi di vật đều có từ một đến hai chỉ số mà số tận cùng là 9. Số 9 trong dân gian có nghĩa là số vĩnh cửu, sự may mắn và đầy đủ. Toàn bộ di vật đều được đặt lộ thiên và bài trí đăng đối trên một trục. Đầu tiên là đôi chó được tạo tác nguyên khối trong tư thế ngồi trên bệ, mặt hướng ra bên ngoài. Chó đá có đôi tai cụp, mõm dài, lưng nổi gờ, cổ đeo chuông. Tiếp đến là đôi Voi được tạo tác trong tư thế phục trên bệ, đầu quay nhìn nhau rất cân xứng. Cùng là khối đá lớn, chất liệu thuộc loại rắn, rất khó khăn trong tạo tác, nhưng với bàn tay của người nghệ nhân xưa đã tạo lên tác phẩm nghệ thuật rất sinh động. Hai con voi giống nhau gần như đúc ra từ một khuôn. Voi có thân hình chắc khỏe, đôi tai to như chiếc quạt đan, vành tai nổi gân guốc, cổ đeo lục lạc, sống lưng nổi thành gờ. Nếu như còn nguyên vẹn cả vòi và ngà thì chắc chắn đây là đôi voi đá thời Hậu Lê to và đẹp nhất của tỉnh Hưng Yên được biết đến cho tới hiện nay.
Hương án đá tại dinh Ông Quận
Hương án được tạo tác nguyên khối đá và được chia thành ba phần rõ rệt. Phần dưới cùng gọi là đế được chạm biểu tượng sóng nước; phần giữa gọi là thân án, mặt trước và hai bên chia làm 5 ô được ngăn cách bằng những đường chỉ lớn nhỏ khác nhau; phần mặt án bằng phẳng bốn góc làm bao lơn. Mặt sau và toàn bộ hương án để trơn không trang trí hoa văn.
Cạnh hương án là hai tấm bia đá thời Lê niên hiệu Vĩnh Hựu năm (1735) nằm đối diện nhau. Tấm bên phải có dạng trụ đứng, chóp bia hình long đình, giữa đỉnh tạo tác nậm rượu. Thân bia có dạng hình chữ nhật, bốn cạnh bằng nhau, đường diềm không trang trí hoa văn. Bia đặt trên đế vuông trang trí bằng đường gờ nổi. Bia khắc 4 mặt chữ, nội dung “Phụng sự bi ký” ghi chép về việc xây dựng Dinh Ông Quận; Tấm bia bên trái bản rộng được chia làm ba phần: Đế, thân và trán bia. Trán bia kiểu long đình; thân bia hình chữ nhật, đường diềm để trơn không trang trí hoa văn. Bia khắc hai mặt chữ Hán, hai cạnh bên ghi năm dựng. Đế bia hình chữ nhật, trang trí bởi các đường gờ nổi. Bia có nội dung “Hậu thần bi ký và Phụng sự bi ký” ghi chép về quá trình gửi hậu của vị Quý Quận Công và việc thờ cúng về sau. Có thể nói hai tấm bia này có giá trị rất lớn về mặt lịch sử, đây là tư liệu còn lại để hậu thế biết về thân thế, sự nghiệp và công trạng của ông Quận. Với giá trị tiêu biểu như vậy việc bảo quản, gìn giữ là rất cần thiết. Song hiện tại hai tấm bia này đang bị cây cối bao phủ, nước ẩm, rêu bám làm mờ dần chữ khắc, nếu để như vậy một thời gian dài thì chữ bị mòm đi và rồi thân thế của vị Quận Công cũng dần lãng quên.
Bia đá tại dinh Ông Quận
Cuối cùng là chiếc sập đá. Sập được chia làm hai phần bao gồm: Phần đế được ghép bởi 9 phiến đá lại với nhau thành ba hàng ngang dọc trong đó có 4 phiến có kích thước lớn, 5 phiến còn lại có kích thước bằng 1/3 phiến lớn. Những phiến đá này được đục dẽo nhẵn nhụi không có hoa văn trang trí. Phần mặt sập được làm bằng đá phẳng nguyên khối, bốn cạnh trang trí bằng các đường chỉ nổi to nhỏ khác nhau.
Điểm khác biệt trong cách trang trí hệ thống di vật bằng đá ở Dinh Ông Quận so với các khu lăng mộ đá cùng thời ở Hưng Yên là: Các di vật ở đây chỉ điêu khắc trơn và tạo lên các đường gờ nổi chứ không trang trí hoa văn trên di vật như những công trình điêu khác đá khác. Việc bố trí di vật ở đây cũng phải tuân theo quy luật, tỷ lệ tương xứng giữa các di vật với nhau.
Nhìn chung, Dinh Ông Quận cho tới nay vẫn còn là điều bí ẩn, chưa được khai thác, phát huy giá trị, tiềm năng vốn có của một công trình điêu khắc đá tiêu biểu của tỉnh Hưng Yên. Hy vọng rằng trong tương lai không xa, Dinh Ông Quận sẽ được mọi người chú ý đặc biệt là chính quyền và nhân dân địa phương cùng các ngành, các cấp có thẩm quyền chuyên môn quan tâm, đưa ra phương án tốt nhất để gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật của di tích. Để Dinh Ông Quận, một vị Quận Công đầu triều oai vệ, một thời không còn lạnh lẽo, hoang tàn.
Nguyễn Thị Huyên