Đền Tống Trân toạ lạc trên một khu đất cao và đẹp ở phía Nam thôn An Cầ ux,ã Tống Trân. Đây là nơi tôn thờ Tống Trân - một con người thông minh xuất chúng được sinh ra tại quê hương An Cầu. Đến nay dân gian còn truyền lại câu ca: “Bẩy tuổi Trạng nguyên lừng đất Việt Mười năm tứ tiết khiết trời Ngô”.
Tương truyền, Tống Trân người xã An Đô, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên). Ngay từ nhỏ, Tống Trân đã nổi tiếng thông minh, học giỏi, học một biết mười, giỏi âm luật, thiên văn địa lý đều tinh thông. Ông đỗ Trạng nguyên nước Việt khi mới lên bẩy tuổi. Sau đó, Tống Trân nhận trách nhiệm đi sứ 10 năm sang Bắc quốc. Tại đây, sau nhiều lần thử tài quan Trạng nước Nam, vua Tàu đã thán phục phong ông là “Lưỡng Quốc Trạng nguyên”. Tống Trân cũng là hình mẫu tiêu biểu về tình yêu chung thuỷ. Dù có bị ép lấy công chúa nước Việt, nước Tàu nhưng chàng vẫn giữ trọn mối tình son sắc với nàng Cúc Hoa là người vợ hiền ở quê nhà.
Đền được khởi dựng từ khá sớm, ngay khi ông mất triều đình và dân làng đã cùng nhau xây dựng ngôi đền để thờ ông. Trải qua thời gian và những biến động của lịch sử đền đã nhiều lần được tu tạo lại. Hiện nay, đền có kiến trúc chữ Đinh gồm 03 gian 02 chái Tiền tế, kiến trúc kiểu giá chiêng, các cấu kiện được bào trơn đóng bén tạo nên vẻ chắc khoẻ, vững chãi. Hậu cung xây kiểu tường hồi bít đốc gồm 03 gian, kết cấu các bộ vì kiểu giá chiêng đơn giản. Hai bên ban thờ Tống Trân tại toà Tiền tế có treo cờ Tiết Mao. Đây là điểm khác biệt, chỉ những vị quan bên Tàu mới được thờ cờ Tiết Mao.
Hiện nay, đền còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị như: Tượng Tống Trân, câu đối, đại tự, bát hương, thần tích, 07 đạo sắc phong,… để tưởng nhớ công lao của bậc hiền tài.
Hằng năm, lễ hội đền Tống Trân được tổ chức từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 04 âm lịch, chính hội là ngày 13, 14. Lễ hội đền Tống Trân thu hút rất đông đảo du khách thập phương tham gia.
Với các giá trị trên, đền Tống Trân được Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao xếp hạng là di tích “Lịch sử” cấp Quốc gia theo Quyết định số 2387/QĐ ngày 30/12/1991.